Bộ Giáo dục Đào tạo.

Trường Đại học Kinh tế Quốc dân.

 

 

 

 

 

 

 

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC

 

 

 

 

Đề tài: Vai trò của ý thức trong hoạt động kinh tế

ở Việt Nam hiện nay.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

·       Họ tên sinh viên: Nguyễn Quang Sơn

·       Lớp: H29 K45

·       Giáo viên hướng dẫn: Lê Thị Hồng

 

 

 

ĐIỂM: 9

 

 

 

Hà Nội – 12/2003

 


XIN GHI RÕ XUẤT XỨ KHI TRÍCH DẪN TÀI LIỆU NÀY!

 

 

 

MỤC LỤC

@ Lời mở đầu

 

@ Nội dung.

 

1. Vai trò của ý thức.

1.1. Ý thức.

1.1.1. Nguồn gốc của ý thức.

1.1.2 Bản chất của ý thức.

1.1.3 Kết cấu của ý thức.

1.2 Vai trò của ý thức.

 

2. Ý thức với hoạt động kinh tế ở Việt Nam.

2.1. Bản chất của hoạt động kinh tế.

2.2 Tác động của ý thức đến hoạt động kinh tế.

2.2.1 Tác động của ý thức đến hoạt động kinh tế trong lịch sử.

2.2.2 Tác động của ý thức đến hoạt động kinh tế ở Việt Nam từ 1975 đến 1986. 

2.2.3 Tác động của ý thức đến hoạt động kinh tế ở Việt Nam từ 1986 đến nay.

- Thực hiện chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, nhiều hình thức sở hữu theo định hướng XHCN.

- Thực hiện chính sách Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa.

- Thực hiện chính sách cổ phần hóa doanh nghiệp.

2.2.4 Những yêu cầu đề ra cho Việt Nam khi bước vào nền kinh tế tri thức.  

 

3. Kết luận.

 

@ Tài liệu tham khảo.

tr

 

tr

 

tr

tr

tr

tr

tr

tr

 

tr

tr

tr

tr  

 

tr

 

tr

 

tr

tr

tr

 

tr

 

tr

 

tr    

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


XIN GHI RÕ XUẤT XỨ KHI TRÍCH DẪN TÀI LIỆU NÀY!

 

 

Tiểu luận triết học

 

Đề tài: Vai trò của ý thức trong hoạt động kinh tế ở Việt Nam hiện nay.

 

Lời mở đầu:

 

Đất nước ta đang trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội, việc nhận thức đúng đắn thực trạng đất nước để đưa ra những đường lối chính sách hợp lí là một yêu cầu cấp thiết của toàn Đảng, toàn dân. Là một sinh viên Đại học Kinh tế Quốc dân, việc nhận thức được tình hình đất nước là một đòi hỏi vô cùng quan trọng. Vì vậy, chúng ta cần phải nghiên cứu vấn đề vai trò của ý thức trong hoạt động kinh tế ở Việt Nam hiện nay. Từ đó rút ra những kinh nghiệm quý báu, làm hành trang vào đời sau 4 năm nữa cho những nhà kinh tế trẻ, những chủ nhân mới của đất nước.

 

1. Vai trò của ý thức:

 

1.1. Ý thức:

 

1.1.1. Nguồn gốc của ý thức:

a) Nguồn gốc tự nhiên của ý thức:

- Óc người là một dạng vật chất có tổ chức cao nhất, là khí quản vật chất sản sinh ra ý thức, hoạt động của ý thức chỉ xảy ra trên cơ sở hoạt động của bộ óc người. Sự phản ánh thế giới khách quan bằng ý thức con người là hình thức phản ánh cao nhất. Hình thức đặc biệt chỉ có con người trên cơ sở phản ánh tâm lý ngày càng phát triển và hoàn thiện. Các sự vật hiện tượng tác động lên các giác quan của con người và chuyển các tác động đó lên trung ương thần kinh, đó là bộ óc người. Do đó con người được hình ảnh về sự vật đó. Những hình ảnh sự vật được ghi lại bằng ngôn ngữ. Tóm lại, nguồn gốc tự nhiên của ý thức là phải có bộ óc con người và sự vật tác động của thế giới khách quan. Nếu thiếu một trong hai yếu tố này thì không thể có ý thức.

b) Nguồn gốc xã hội của ý thức.

Trong hoạt động lao động, con người cần phải quan hệ với nhau, phối hợp hành động với nhau tạo ra nhu cầu phải nói với nhau, dẫn đến xuất hiện ngôn ngữ. Ngôn ngữ trở thành phương tiện để diễn đạt tư tưởng và trao đổi giữa người với người. Nhờ có ngôn ngữ, sự phản ánh của con người trở thành sự phản ánh tri giác. Như vậy là trong lao động và cùng với lao động là ngôn ngữ. Đó là hai sức kích thích chủ yếu để hình thành nên ý thức của con người.

- Tóm lại, nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội là hai điều kiện cần và đủ cho sự ra đời của ý thức. Nếu thiếu một trong hai điều kiện ấy không thể có ý thức.

 

1.1.2 Bản chất của ý thức.

- Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người một cách năng động sáng tạo.

- Chủ nghĩa duy tâm coi ý thức như là một thực thể độc lập tách rời vật chất và là cái có trước quyết định vật chất, vì thế nguyên tắc thế giới quan họ không thể trả lời được câu hỏi ý thức là gì? Đó là vấn đề đặt ra cho chủ nghĩa duy vật.

- Chủ nghĩa duy vật thừa nhận vật chất có trước và sinh ra ý thức, do đó đều tìm câu trả lời trong sự vận động của vật chất. Nhưng trong thời kỳ lịch sử do điều kiện kinh tế xã hội khác nhau, do trình độ nhận thức khác nhau, câu trả lời cũng khác nhau.

- Chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII - XVIII và chủ nghĩa duy vật Phơtơbác đã có một bước tiến quan trọng, coi ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào thế giới con người, cảm giác là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.

- Chủ nghĩa duy vật biện chứng kế thừa tư tưởng của chủ nghĩa duy vật Phơtơbac coi ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc con người, đồng thời khẳng định rằng đó không phải là sự phản ánh thụ động mà là sự phản ánh mang tính chủ thể, con người chủ động tác động vào gii tự nhiên để tìm hiểu, nhận thửc phản ánh chung do đó mà có ý thc: "Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người một cách năng động sáng tạo."

- Cả vật chất và ý thức đều là "hiện thực" nghĩa là đều tồn tại. Nhưng giữa chúng có sự khác nhau mang tính đối lập. Ý thức là sự phản ánh, là cái phản ánh; còn vật chất là cái được phản ánh. Cái được phản ánh (vật chất) tồn tại khách quan ở ngoài và độc lập với cái phản ánh (ý thức). Cái phản ánh là hiện thực chủ quan, là hình ảnh chủ quan của sự vật khách quan, lấy cái khách quan làm tiền đề, bị cái khách quan quy định, không có tính vật chất. Vì vậy không thể đồng nhất, hoặc tách rời cái được phản ánh với cái phản ánh.

- Ý thức là của con người, mà con người là một thực thể xã hội năng động sáng tạo. Ý thức ra đời trong quá trình con người hoạt động cải tạo thế giới, cho nên ý thức con người mang tính năng động, sáng tạo lại hiện thực theo nhu cầu thực tiễn xã hội. Tính sáng tạo của ý thức thể hiện ra rất phong phú. Trên cơ sở những cái đã có trước, ý thức có khả năng tạo ra tri thức mới về sự vật, có thể tưởng tượng ra cái không có trong thực tế, có thể tiên đoán, dự báo tương lai, có thể tạo ra những ảo tưởng, huyền thoại… Tính sáng tạo của ý thức không có nghĩa là ý thức đẻ ra vật chất. Sáng tạo của ý thức là sáng tạo của sự phản ánh, theo quy luật và trong khuôn khổ của sự phản ánh. Ý thức là một hiện tượng xã hội. Vì thế ý thức mang bản chất xã hội.

 

1.1.3 Kết cấu của ý thức.

- Ý thức là một hiện tượng xã hội có kết cấu rất phức tạp bao gồm nhiều thành tố khác nhau có quan hệ với nhau như: tri thức, tình cảm, niềm tin, lý trí, ý chí ... trong đó tri thức là yếu tố cơ bản, cốt lõi.

- Tri thức là kết quả quá trình nhận thức của con người về thế giới hiện thực, làm tái hiện trong tư tưởng những thuộc tính, những quy luật của thế giới ấy và diễn đạt chúng dưới hình thức ngôn ngữ hoặc các hệ thống ký hiệu khác. Tri thức có nhiều loại, nhiều cấp độ.

* Vai trò của tri thc trong hoạt động thực tiễn:

- Nói đến ý thức trước hết là nói đến bộ óc con người đã nhận thức được cái gì do về sự vật. Con người bằng hoạt dộng thực tiễn cải tạo thế giới phục vụ nhu cầu sống của mình thì đồng thi cũng t đó mà con người có ý thức, tc là có tri thức, tinh cảm, ý chí và t ý thc. Hoạt động xã hội càng mở rộng quan hệ xã hội càng phong phú phức tạp thì ý thc con người cũng cần phc tạp, phong phú. Như vậy không chỉ có tri thức nảy sinh trong hoạt động thực tiễn, mà ngay cả tình cảm. ý chí cũng phát sinh từ đó. Các yếu tố ấy đồng nhất vớì nhau tác động ảnh hưởng lẫn nhau nhưng về cơ bản ý thức có nội dung tri thức và luôn hướng tới tri thức. Vì tri thức là yêu cầu đầu tiên trong hoạt động sống của con người, nhưng cùng với tri thức, con người cần có tình cảm, ý chí. Tri thức đóng vai trò hướng dẫn, quản lý hoạt động của con người, nhưng tình cảm ý chí tăng thêm tính nhân bản của hoạt động ấy.

- Trong quá trình sống, hoạt dộng con người không chỉ có ý thức về thế giới khách quan bên ngoài, con người hướng ý thức về thế giới bên trong, hướng về cái tôi của chính mình để tìm hiểu, nhận thức nó. Đó là tý thức. T ý thức chính là ý thức tự nhận chính minh. Tý thức là ý thức trình độ cao nhất. Nó là yếu tố hướng dẫn hành vi đạo đức, hành vi văn hóa ở con người.

 

1.2 Vai trò của ý thức.

- Vật chất có vai trò quyết định đối với ý thức. Nhưng ý thức cũng có vai trò vô cùng quan trọng đối với vật chất. Ý thức do vật chất sinh ra và quyết định, song sau khi ra đời, ý thức có tính độc lập tương đối nên có sự tác động trở lại to lớn đối với vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người.

- Nói vai trò của ý thức tức là nói đến vai trò của con người vì ý thức là ý thức của con người. Bản thân ý thức tự nó không trực tiếp thay đổi được gì trong hiện thực, nó tác động trở lại đời sống hiện thực thông qua lực lượng vật chất. Nghĩa là sự tác động của ý thức đối với vật chất phải thông qua hoạt động của con người được bắt đầu từ khâu nhận thức được quy luật khách quan, biết vận dụng đúng đắn quy luật khách quan, phải có ý chí, phương pháp để tổ chức hành động. Vai trò của ý thức là ở chỗ trang bị cho con người những tri thức về bản chất quy luật khách quan của đối tượng, trên cơ sở ấy con người xác định đúng đắn mục tiêu và đề ra phương hướng hoạt động phù hợp, xác định các biện pháp thực hiện.

- Ý thức có thể làm biển đổi  hiện thực khách quan (hiện thực khách quan) thông qua hoạt động thực tiễn của con người. Bản thân ý thức không thể tự làm thay đổi một chút nào hiện thực. Song ý thức có vai trò vô cùng to lớn, nó được thể hiện trong 2 trường hợp:

+ Ý thức phản ánh đúng đắn  hiện thực khách quan, nó chỉ đạo hoạt động thực tiễn của con người theo đúng quy luật của hiện thực, do dó nó sẽ thúc đẩy sự phát triển của  hiện thực khách quan.

+ Ý thức phản ánh không đúng  hiện thực khách quan, nó chỉ đạo hoạt động thực tiễn của con người không đúng quy luật, do đó nó sẻ cản trở, kìm hăm sự phát triển của hiện thực khách quan.

Vì vậy, phải phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức, phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò nhân tố con người để tác động cải tạo thế giới khách quan, đồng thời phải khắc phục bệnh bảo thủ trì trệ, thái độ tiêu cực, thụ động, ỷ lại, ngồi chờ trong quá trình đổi mới hiện nay.

 

2. Ý thức với hoạt động kinh tế ở Việt Nam.

 

2.1. Bản chất của hoạt động kinh tế.

- Kinh tế  là gì? Theo Từ điển Tiếng Việt thì kinh tế là toàn bộ những hoạt động để tạo ra cơ sở vật chất nhằm thỏa mãn cho nhu cầu của con người

- Hoạt động kinh tế là hoạt động sản xuất ra của cải vật chấtcủa con người, diễn ra dưới sự chỉ đạo của ý thức. Hoạt động kinh tế gắn liền với những hoạt động của con người, ngay từ khi con người mới xuất hiện. Trải qua điều kiện lịch sử, xã hội, hoạt động kinh tế cũng biến đổi theo những hình thái, đặc điểm khác nhau. Nó đã tác động vào mọi mặt của đời sống con người.

- Hoạt động kinh tế không chỉ gắn với một cá nhân, một tập thể mà còn gắn với cả nhà nước, cả thế giới. Đâu đâu cũng có kinh tế. Ở đây chúng ta chỉ xét đến những hoạt động kinh tế của một quốc gia chứ không chỉ của một cá nhân, tổ chức.

- Mọi nền kinh tế đều phải giải quyết các vấn đề cơ bản: Sản xuất cái gì? Bằng cách nào? Và cho ai? Có hai cách giải quyết cơ bản là kinh tế tự nhiên và kinh tế hàng hoá với giai đoạn phát triển cao của nó là kinh tế thị trường.

- Kinh tế tự nhiên là mô hình kinh tế đầu tiên của xã hội loài người, theo kiểu "tự túc, tự cấp". Là nền kinh tế trong đó sản phẩm được làm ra nhằm thoả mãn nhu cầu riêng của cá nhân người sản xuất. Người sản xuất tự quyết định về loại sản phẩm, số lượng sản phẩm theo nhu cầu của bản thân họ. Sự trao đổi sản phẩm giữa những người sản xuất với nhau rất hiếm và dưới các hình thức trao đổi đơn giản (vật đổi vật)

- Kinh tế hàng hoá là sự phát triển kế tiếp của kinh tế tự nhiên, xuất hiện vào thời kỳ xã hội cộng sản nguyên thuỷ tan rã. trên cơ sở phân công lao động đã phát triển và sự xuất hiện, tồn tại chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất. Kinh tế hàng hoá đối lập với kinh tế tự nhiên, là kiểu tổ chức kinh lễ - xã hội trong đó quan hệ giữa người với người được thể hiện thông qua quan hệ trao đổi hàng hoá trên thị trường và do vậy, kinh tế hàng hoá có ưu thế hởn hẳn kinh tế tự nhiên về năng suất và hiệu quả kinh tế, là bước phát triển cao của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội. Ngày nay, tuy ở mức độ khác nhau, các quốc gia trên thế giới đều coi sản xuất hàng hoá là mô hình kinh tế tối ưu giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội.

- Kinh tế thị trường là kinh tế hàng hoá phát triển tới tanh độ cao với đầy đủ các yếu tố của nó, là mô hình kinh tế trong đó cung và cầu hàng hoá gặp gỡ nhau trên thị trường, các quan hệ hàng hoá, tiền tệ phát triển mở rộng, bao quát trên nhiều lĩnh vực, có ý nghĩa phổ biến đối với người sản xuất và người tiêu dùng. Tất cả các quan niệm trên của kinh tế thị trường đều dựa trên nền tảng một sự phân công lao động xã hội phát triển cao.

- Vấn đề quan trọng trong hoạt động kinh tế của mỗi quốc gia là phải xác định hướng đi của nền kinh tế theo con đường nào. Trong quá trình đó, ý thức đóng vai trò không nhỏ trong việc tác động đến nền kinh tế.

 

2.2 Tác động của ý thức đến hoạt động kinh tế.

- Hoạt động thực tiễn bao gồm 3 hình thức cơ bản: hoạt động sản xuất ra của cải vật chất; đấu tranh chính trị xã hội và hoạt động nghiên cứu, thực nghiệm khoa học. Trong đó hoạt động sản xuất ra của cải vật chất (hoạt động kinh tế) đóng vai trò quyết định.

- Trong hoạt động thực tiễn yếu tố vật chất chính là các phương tiện, công cụ, điều kiện mà con người sử dụng để tác động vào thế giới khách quan và cải tạo nó.

- Vật chất và ý thức có mối quan hệ biện chứng. Vật chất đóng vai trò quyết định ý thức, ngược lại ý thức có vai trò quan trọng tác động trở lại yếu tố vật chất.

- Ý thức có thể làm biển đổi  hiện thực khách quan (hiện thực khách quan) thông qua hoạt động thực tiễn của con người. Bản thân ý thức không thể tự làm thay đổi một chút nào hiện thực. Song ý thức có vai trò vô cùng to lớn, nó được thể hiện trong 2 trường hợp:

+ Ý thức phản ánh đúng đắn hiện thực khách quan, nó chỉ đạo hoạt động thực tiễn của con người theo đúng quy luật của hiện thực, do dó nó sẽ thúc đẩy sự phát triển của  hiện thực khách quan.

+ Ý thức phản ánh không đúng hiện thực khách quan, nó chỉ đạo hoạt động thực tiễn của con người không đúng quy luật, do đó nó sẻ cản trở, kìm hăm sự phát triển của hiện thực khách quan.

 

2.2.1 Tác động của ý thức đến hoạt động kinh tế trong lịch sử.

- Tất cả các hoạt động kinh tế của con người đều chịu tác động của ý thức. Trong lịch sử, chúng ta có thể thấy những tác động của ý thức ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động kinh tế. Từ thủa sơ khai, con người đã biết cải tiến những công cụ sản xuất, tạo ra những thay đổi to lớn về phương thức sản xuất, quan hệ sản xuất. Từ chỗ chỉ biết hái lượm, con người đã biết trồng trọt, săn bắn. Từ chỗ chỉ trao đổi, con người đã tiến tới việc mua bán. Hoạt động kinh tế không chỉ diễn ra trong một khu vực mà còn vươn rộng sang các nước, châu lục khác. Ở Việt Nam cũng vậy, khoảng 15.000 – 20.000 năm cách ngày nay, khi ấy con người vẫn đang trong thời kỳ kinh tế thu lượm, săn thú, đã xuất hiện những công cụ chặt có lưỡi ở một đầu. Các nay trên 10.000 năm, ở vùng Hòa Bình, con người đã bước vào lĩnh vực trồng trọt: trồng cây có củ, cây ăn quả cùng một số rau dưa bầu bí. Họ cũng đã biết chăn nuôi một số gia súc như chó, lợn. Cuộc "cách mạng đá mới" mà nội dung chủ yếu là sự nhảy vọt từ kinh tế thu lượm sang kinh tế sản xuất và dự trữ đã bắt đầu. Sau đó, từ loài lúa hoang, các bộ lạc đầu tiên ở châu thổ đã thuần hóa thành lúa nửa hoang, rồi lúa trồng. Nghề nông trồng lúa đã ra đời. Một nền văn minh mới được hình thành: nền văn minh sông Hồng. Trải qua hơn 4000 năm lịch sử, nền kinh tế Việt Nam dần dần được hình thành. Trong quá trình đó, không thể không nhắc tới tác động của ý thức khiến cho lực lượng sản xuất phát triển, kéo theo quan hệ sản xuất phát triển.

 

2.2.2 Tác động của ý thức đến hoạt động kinh tế ở Việt Nam từ 1975 đến 1986.             

            Sau chiến thắng mùa Xuân 1975, đất nước thống nhất, cả nước cùng quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong điều kiện đất nước chịu đựng những đảo lộn kinh tế và xã hội với quy mô lớn sau cuộc chiến tranh ác liệt, lâu dài, tình hình thế giới có những mặt diễn biến không thuận lợi. Nền kinh tế nước ta lúc này là một nền kinh tế hiện vật, mang nặng tính tự túc, tự cấp, được quản lý theo cở chế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu, bao cấp. Trong nền kinh tế đó việc sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, cho ai và phân phối bằng cách nào đều theo một kế hoạch thống nhất mang tính pháp lệnh từ một trung tâm điều hành đó là Nhà nước. Nhà nước Việt Nam thời kỳ này là "một đại xí nghiệp, một tổ chức siêu kinh tế", chỉ huy nền kinh tế bằng những mệnh lệnh hành chính, dẫn đến sự xở cứng, đóng băng các quan hệ kinh tế, quan hệ xã hội. Nhà nước chỉ công nhận sự tồn tại của thị trường XHCN (giao nộp và phân phối sản phẩm), của thành phần kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể; tổ chức sản xuất xã hội rất đơn giản. Các xí nghiệp quốc doanh được quan niệm là những đơn vị kinh tế Nhà nước có nhiệm vụ thực hiện sự phát triển không ngừng của XHCN nhằm đáp ứng quy luật của chủ nghĩa xã hội. Các quan hệ thị trường không có đất nảy sinh, quan hệ giữa các tổ chức kinh tế không phải là quan hệ mua bán, trao đổi hàng hoá mà là quan hệ cung ứng và giao nộp sản phẩm theo kế hoạch của một chủ thể kinh tế duy nhất, đó là Nhà nước.

            Có thể nói Nhà nước đã can thiệp quá sâu vào các quan hệ sản xuất, phân phối, lưu thông và ngày càng làm mất đi vai trò và khả năng kiểm soát nền kinh tế của mình; làm triệt tiêu khả năng sáng tạo của cá nhân và tập thể người lao động, đồng thời thủ tiêu luôn tiềm năng phát triển xã hội. Đây cũng là mô hình kình tế phổ biến của các nước thuộc hệ thống XHCN. Hậu quả là xuất hiện cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội sâu sắc vào cuối những năm 70 đầu những năm 80.

            Sở dĩ có tình hình trên là do trước đây chúng ta hiểu chưa đúng về kinh tế thị trường, cho rằng kinh tế thị trường đồng nhất với chủ nghĩa tư bản và không tương dung với chủ nghĩa xã hội. Lúc bấy giờ ở các nước xã hội chủ nghĩa đã hình thành xu hướng cường điệu những dự báo về hiểm hoạ do sự tồn tại và phát triển các quan hệ hàng hoá và quan hệ thị trường có thể gây ra tác hại cho CNXH. Các cuộc cải cách kinh tế ở một số nước thường bị đẩy lùi. Tư tưởng của Lênin trong chính sách kinh tế mới xem như bước lùi tạm thời bất đắc dĩ. các nước này, quan hệ hàng hoá - tiền tệ, quan hệ thị trường chỉ còn trên hình thức, cục bộ, tạm thời. Cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp duy trì quá lâu đã trở thành cở chế kìm hãm, làm biến dạng CNXH. Đây chính là biểu hiện của việc ý thức phản ánh không đúng hiện thực khách quan, dẫn đến chỉ đạo hoạt động thực tiễn của con người không đúng quy luật, cản trở, kìm hăm sự phát triển của hiện thực khách quan.

            Đây cũng là giai đoạn thử nghiệm để từng bước, đưa nền kinh tế nước ta vào quĩ đạo của kinh tế thị trường. Giai đoạn này diễn ra từ năm 1979 đến năm 1986, được đánh dấu sự khởi đầu bằng Nghị quyết hội nghị Trung ương lần thứ VI (khoá IV). Tại Hội nghị này, lần đầu tiên Đảng ta đưa ra quan điểm phát triển kinh tế hàng hoá. Thành tựu quan trọng trong giai đoạn này là: Khơi dậy động lực của cơ chế kinh tế đối với sản xuất, lưu thông, tạo ra được hệ thống lợi ích phù hợp với qui luật khách quan của kinh tế thị trường. Cũng từ đây cơ chế mới với sự điều tiết của thị trường đã bắt đầu thay cơ chế cũ.

            Đại hội IV của Đảng tiếp tục khẳng định: cả nước bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Sau 10 năm (1976 - l986), bên cạnh những thành tựu, Đảng có sai lầm. Đất nước ta lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội. Đảng nhìn thẳng vào sự thật, phân tích thực tiễn đất nước và xuất phát từ nguyện vọng của nhân dân ta đã khởi xướng và lãnh đạo sự nghiệp đổi mới theo chủ nghĩa xã hội. Nhờ độc lập sáng tạo trong đường lối đổi mới và kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, chúng ta dã vượt qua được những thử thách hiểm nghèo đưa đất nước chuyển sang bước phát triển mới.

 

2.2.3 Tác động của ý thức đến hoạt động kinh tế ở Việt Nam từ 1986 đến nay. Giai đoạn vận hành nền kinh tế dần dần theo đúng quĩ đạo kinh tế thị trường.          

            Từ nguyên lý vật chất quyết định ý thức, t đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Đảng ta đã rút ra bài học phải xuất phát t thực tế khách quan, tôn trọng và hành động tuân theo quy luật khách quan. Nhận thức rõ vai trò của ý thức đối với hoạt động kinh tế (từ lý luận và cả thực tiễn ở Việt Nam), Đảng cho rằng muốn phát triển kinh tế của Việt Nam trước hết phải đổi mới tư duy kinh tế.:

- Nhận thức lại bản chất kinh tế của thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trong xã hội XHCN nói chung và ở Việt Nam nói riêng.

- Nhận thức lại các quy luật và các hình thức phát triển kinh tế trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội và ở Việt Nam.

+ Kinh tế thị trường không đồng nhất với chủ nghĩa tư bản và kinh tế hàng hoá không phải là thuộc tính riêng có của CNTB. Với tư cách một quan hệ kinh tế khách quan, quan hệ hàng hoá và quan hệ thị trường đã có từ rất lâu, từ trước khi có chế độ TBCN, và nó vẫn tiếp tục tồn tại, phát triến trong quá trình đi lên CNXH cũng như trong CNXH.

+ Vì vậy không phải cứ chuyển sang kinh tế thị trường là đi theo con đường tư bản chủ nghĩa. Chủ nghĩa xã hội cũng cần phát triển kinh tế hàng hoá và sử dụng cở chế thị trường. Điều đó cũng có nghĩa là, trên con đường đi lên CNXH, chúng ta có thể bỏ qua chế độ TBCN, nhưng tất yếu phải đi qua quá trình phát triển các quan hệ hàng hoá - tiền tệ. Đây là quá trình chuyển biến nhận thức lâu dài và cực kỳ khó khăn.

+ Thấy được sự phát triển tất yếu của kinh tế thị trường cùng với những ưu, nhược điểm của nó, Đảng ta đã có bước đổi mới căn bản trong nhận thức và tư duy lý luận, xem quá trình chuyển từ nền kinh tế hiện vật với cơ chế quản lý tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá như một bộ phận hữu cơ của quá trình đưa nước ta từ sản xuất nhỏ đi lên sản xuất lớn XHCN.

            Trong một thời gian dài, chúng ta đã mắc bệnh chủ quan, duy ý chí xã hội thực tế khách quan. Cơ sở vật chất còn thấp kém nhưng nôn nóng muốn đốt cháy giai đoạn vì vậy đã phải trả giá cho những sai lầm đó. Muốn xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội phải có cơ sở hạ tầng của CNXH, phải có cơ sở vật chất phát triển. Để có được điều này Đảng ta chủ trương:

+ Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng XHCN. Các thành phần kinh tế được tự do kinh doanh và phát triển theo khuôn khổ pháp luật dược bình đẳng trước pháp luật. Mục tiêu là làm cho thành phần kinh tế quốc doanh và tập thể đóng vai trò chủ đạo.

+ Mở rộng giao lưu kinh tế với nước ngoài. Trong khu vực và quốc tế.

+ Tận dụng mọi nguồn lực, tài lực trong nước để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

+ Thu hút nguồn vốn đầu tư của nước ngoài, phát triển cơ sở hạ tầng.

+ Nắm vững nguyên lý ý thức có tác động tích cực trở lại đối với vật chất, Đảng ta đề ra chủ trương đổi mới và phải đổi mới, trước hết là đổi mới tư duy. Đổi mới tư duy làm điều kiện tiền đề đổi mới trong hoạt động thực tiễn.

- Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng HCM làm kim chỉ nam cho hành động.

- Phát huy tinh thần năng dộng, sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò nhân tố con người.

+ Vai trò tích cực của ý thức là ở chỗ ý thức quyết định sự thành bại của con ngưi trong hoạt động thực tiễn sẵn do đó phải:

- Khắc phục thái độ trông chờ ỷ lại vào hoàn cảnh.

- Cần hình thành một ý thức đúng, tổ chức hoạt động theo quy luật triệt để khai thác điều kiện khách quan.

- Trong hoạt động thc tiễn phải giáo dục và nâng cao trình độ tri thức khoa học cho nhân dân nói chung, nâng cao trình độ cho cán bộ, Đảng viên nhất là trong điều kiện hiện nay.

            Những nhận thức mới đó được cụ thể hóa bằng các chính sách:

A. Chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, nhiều hình thức sở hữu theo định hướng XHCN.

            Từ Đại hội VI, Đảng ta chủ trương cho phép sử dụng nhiều hình thức kinh tế nhằm khai thác mọi khả năng của các thành phần kinh tế, trong đó kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo, coi đây là một giải pháp có ý nghĩa chiến lược góp phần giải phóng mọi khả năng để phát triển lực lượng sản xuất.

            Hội nghị Trung ương lần thứ VI khoá VI - tháng 3-1989) là Hội nghị quan trọng nhất từ sau Đại hội IV của Đảng; trang bị thêm cho chúng ta những quan điểm mới, cụ thể hoá và phát triển hơn so với Nghị quyết Đại hội Đảng VI: Hội nghị đưa ra quan điểm phát triển nền kinh tế hàng hoá có kế hoạch gồm nhiều thành phần đi lên chủ nghĩa xã hội, coi chính sách kinh tế nhiều thành phần có ý nghĩa chiến lược lâu dài, có tính qui luật từ sản xuất nhỏ đi lên chủ nghĩa xã hội. Đây là thời kỳ có nhiều chuyển biến về cơ chế, chính sách với việc thực hiện cơ chế giá kinh doanh. Cả nước là một thị trường thống nhất, gắn với thị trường thế giới và hàng loạt các biện pháp đồng bộ khác về tài chính, lãi suất ngân hàng và các biện pháp chống lạm phát khác. Bằng các biện pháp đó, chúng ta mới chuyển hẳn sang kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN. Mục tiêu của thời kỳ này là: Phát triển các yếu tố tích cực, điều chỉnh và hạn chế các mặt trái của kinh tế thị trường; phát triển kinh tế nhanh và bền vững; thống nhất hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội.

            Đến Đại hội Đảng lần thứ VII, Đảng ta tiếp tục nói rõ hơn chủ trương này và khẳng định đây là chủ trương chiến lược, là con dường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta. Văn kiện Đại hội VII của Đảng khẳng định: "Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường đi đôi với tăng cường vai trò quản lý Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa". Đại hội lần thứ VIII của Đảng ta nêu lên 5 thành phần kinh tế: Kinh tế Nhà nước, kinh tế hợp tác, kinh tế tư bản Nhà nước, kinh tế cá thể tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân.

            Đại hội IX của Đảng đưa ra khái niệm "kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa". Nội hàm của khái niệm này thực chất vẫn là phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhằn nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhưng được diễn đạt gọn hơn, nói rõ được mô hình kinh tế tổng quát ở nước ta trong thời kỳ quá độ. Đây là bước phát triển mới trong nhận thức và tư duy lý luận của Đảng ta. Nói kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có nghĩa là nền kinh tế của chúng ta không phải là kinh tế bao cấp quản lý theo kiểu tập trung, quan liêu, nhưng đó cũng không phải là nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa; và cũng chưa hoàn toàn là kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, bởi vì như trên đã nói, chúng ta còn đang ở trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, còn có sự đan xen và đấu tranh giữa cái cũ và cái mới, vừa có vừa chưa có đầy đủ yếu tố chủ nghĩa xã hội.

            Đại hội IX của Đảng xác định ở Việt Nam hiện nay còn tồn tại 3 hình thức sở hữu (hoặc loại hình) cở bản: sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân. Các hình thức sở hữu có thể đan xen, hỗn hợp. Trên cơ sở các hình thức sở hữu cở bản đó hình thành các thành phần kinh tế với những hình thức tổ chức kinh doanh đa dạng. Tại Đại hội lần này Đảng ta gọi thành phần "kinh tế tập thể" thay cho cách gọi kinh tế hợp tác và thêm thành phần "Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài" nhằm phản ánh đúng thực tế đã diễn ra ở nước ta trong những năm gần đây. Bộ phận kinh tế này chiếm tỉ trọng ngày một tăng, có vị trí quan trọng trong nền kinh tế.

            Nội dung và quá trình thực hiện chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, nhiều hình thức sở hữu theo định hướng XHCN:

- Đổi mới và hoàn thiện khung pháp lý, tháo gỡ mọi trở ngại về cơ chế, chính sách và thủ tục hành chính để huy động tối đa mọi nguồn lực, tạo sức bật mới cho phát triển sản xuất, kinh doanh của mọi thành phần kinh tế với các hình thức sở hữu khác nhau. Mọi doanh nghiệp, mọi công dân được đầu tư kinh doanh theo các hình thức do luật định và được pháp luật bảo vệ. Mọi tổ chức kinh doanh theo các hình thức sở hữu khác nhau hoặc đan xen hỗn hợp đều được khuyến khích phát triển lâu dài, hợp tác, cạnh tranh bình đẳng và là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Phát triển mạnh các doanh nghiệp nhỏ và vừa; từng bước hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh.

- Tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế nhà nước để thực hiện tốt vai trò chủ đạo trong nền kinh tế. Kinh tế nhà nước là lực lượng vật chất quan trọng và là công cụ để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế, tập trung đầu tư cho kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội và một số cơ sở công nghiệp quan trọng. Doanh nghiệp nhà nước giữ những vị trí then chốt trong nền kinh tế, đi đầu ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ; nêu gưởng về năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế - xã hội và chấp hành pháp luật.  Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII chỉ rõ: Vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước thể hiện ở chỗ "làm đòn bẩy đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế và giải quyết những vấn đề xã hội, mở đường hướng dẫn, hỗ trợ các thành phần kinh tế khác cùng phát triển, làm lực lượng vật chất để Nhà nước thực hiện chức năng điều tiết và quản lý vĩ mô, tạo nền tảng cho chế độ xã hội mới"

- Phát triển doanh nghiệp nhà nước trong những ngành sản xuất và dịch vụ quan trọng; xây dựng các tổng công ty nhà nước đủ mạnh để làm nòng cốt trong những tập đoàn kinh tế lớn, có năng lực. cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế như dầu khí, điện, than, hàng không, đường sắt, vận tải viễn dưởng, viễn thông, cở khí, luyện kim, hoá chất, vật liệu xây dựng, xuất nhập khẩu, ngân hàng, bảo hiểm, kiểm toán...

- Đổi mới cơ chế quản lý, phân biệt quyền của chủ sở hữu và quyền kinh đoành của doanh nghiệp. Chuyển các doanh nghiệp nhà nước kinh doanh sang hoạt động theo cơ chế công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ  phần. Bảo đảm quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm đầy đủ trong sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, cạnh tranh bình đẳng trước pháp luật; xoá bỏ bao cấp của Nhà nước đối với doanh nghiệp.

- Thực hiện chủ trương cổ phần hoá những doanh nghiệp mà Nhà nước không cần nắm giữ 100% vốn để huy động thêm vốn, tạo động lực và cở chế quản lý năng động thúc đẩy doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả. ưu tiên cho người lao động được mua cổ phần và từng bước mở rộng bán cổ phần cho các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài. Thực hiện việc giao, bán, khoán, cho thuê các doanh nghiệp loại nhỏ mà Nhà nước không cần nắm giữ. Sáp nhập, giải thể, phá sản những doanh nghiệp không hiệu quả và không thực hiện được các biện pháp trên.

- Phấn đấu hoàn thành việc sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước; củng cố và hiện đại hoá một bước các tổng công ty nhà nước. Phát triển kinh tê tp thể với các hình thức hợp tác đa dạng. Chuyển đổi hợp tác xã cũ theo Luật Hợp tác xã đạt hiệu quả thiết thực. Phát triển hợp tác xã kinh doanh tổng hợp đa ngành hoặc chuyên ngành để sản xuất hoặc kinh doanh dịch vụ, tạo điều kiện mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh phù hợp quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

- Trong nông nghiệp, trên cơ sở phát huy tính tự chủ của hộ gia đình, chú trọng phát triển các hình thức hợp tác và hợp tác xã cung cấp dịch vụ, vật tư và tiêu thụ sản phẩm cho kinh tế hộ gia đình và trang trại. Mở rộng các hình thức kinh tế hỗn hợp, liên kết, liên doanh giữa hợp tác xã với các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Nhà nước giúp hợp tác xã đào tạo, bồi dưỡng cán bộ kỹ thuật và quản lý, mở rộng thị trường, ứng dụng công nghệ mới, phát triển vốn tập thể, giải quyết nợ tồn đọng của hợp tác xã cũ.

- Kinh tế cá thể và tiểu chủ ở nông thôn và thành thị được Nhà nước tạo điều kiện để phát triển.

- Kinh tê tư bản tư nhân được khuyến khích phát triển không hạn chế về quy mô trong những ngành, nghề, lĩnh vực và địa bàn mà pháp luật không cấm; khuyến khích hợp tác, liên doanh với nhau và với doanh nghiệp nhà nước, chuyển thành. doanh nghiệp cổ phần và bán cổ phần cho người lao động.

- Kinh tế tư bản nhà nước dưới các hình thức liên doanh, liên kết giữa kinh tế nhà nước với kinh tế tư nhân trong và ngoài nước ngày càng phát triển đa dạng. 

- Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận của nền kinh tế Việt Nam, được khuyến khích phát triển, hướng mạnh vào sản xuất, kinh doanh hàng hoá và dịch vụ xuất khẩu, hàng hoá và dịch vụ có công nghệ cao, xây dựng kết cấu hạ tầng.

            Như vậy, hiện nay ở nước ta có 6 thành phần kinh tế bao gồm: kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản Nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Các thành phần kinh tế này cùng tồn tại, đan xen, tác động lẫn nhau, thúc đẩy lẫn nhau phát tnển. Những thành phần kinh tế này có diện mạo riêng nhưng đều nằm trong cơ cấu kinh tế thống nhất của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cùng tồn tại lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế Nhà nước, cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân.

 

B. Chính sách Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa.

            "Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ" là một trong 6 định hướng lớn của công tác tư tưởng hiện nay. Theo định hướng này, công tác tư tưởng phải góp phần tích cực vào việc thống nhất nhận thức và nâng cao quyết tâm thực hiện bằng được các tư tưởng quan trọng sau:

            Trong điều kiện nước ta, nếu không quan tâm trước hết đến phát triển lực lượng sản xuất, giải phóng mọi năng lực sản xuất thì không thể nói đến việc quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Cái thiếu lớn nhất của đất nước ta, kể từ khi bước vào thời kỳ quá độ đến nay vẫn là thiếu một lực lượng sản xuất phát triển, hiện đại. Vì vậy từ Đại hội III đến nay, chúng ta luôn luôn xác định công nghiệp hóa là nhiệm vụ trung tâm suốt thời kỳ quá độ. Những năm trước đây, ngay trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, chúng ta đã làm được những việc đáng kể, mà thành quả của nó đang phát huy tác dụng. Tuy nhiên trước đây chúng ta nhận thức giản đơn rằng, dường như có quan hệ sản xuất tiên tiến là đã có chủ nghĩa xã hội, rằng cứ đẩy quan hệ sản xuất đi trước (thiết lập nhanh với quy mô lớn sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể) là có thể kéo lực lượng sản xuất lên nhanh. Thực tế cho thấy làm như thế, lực lượng sản xuất bị kìm hãm, công nghiệp hóa diễn ra yởi tốc độ chậm, hiệu quả kém. Trong những năm đổi mới chúng ta đã từng bước khắc phục các nhận thức ấu trĩ, các sai tâm do nóng vội, chủ quan; tích lũy thêm kinh nghiệm thành công, hình thành được nhận thức mới và cách làm mới để tiến hành công nghiệp hóa đất nước.

            Từ đầu năm 1994, căn c vào những thành tựu đổi mới và những tiền đề đã tạo ra được, chúng ta đã quyết định đầy tới một bước nhiệm vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. quyết định đúng đắn và đúng lúc của Đảng ta "được nhân dân cả nước nhiệt liệt đồng tình và đang ra sức thực hiện".

            Đến nay, đất nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội, những nhiệm vụ thuộc chặng đường đầu thời kỳ quá đố đã căn bản hoàn thành, chúng ta chuyển sang thời kỳ mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

            Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là con đường tất yếu để chuyển nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp lạc hậu sang nền kinh tế hiện đại với cơ cấu công - nông nghiệp dịch vụ hợp lý, trong đó, công nghiệp và dịch vụ ngày một chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu tổng sản phẩm quốc gia Đối với nước ta, nông nghiệp có vai trò quyết định đến việc ổn định tình hình kinh tế - xã hội, tạo cơ sở cho công nghiệp hóa phát triển. Với vai trò quan trọng đó nông nghiệp phải phát triển toàn diện, hiện đại.

            Nội dung tổng quát của công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn:

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá lớn, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường; thực hiện cơ khí hoá, điện khí hoá, thuỷ lợi hoá, ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ, trước hết là công nghệ sinh học, đưa thiết bị, kỹ thuật và công nghệ hiện đại vào các khâu sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nông sản hàng hoá trên thị trường.

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tăng nhanh tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động các ngành công nghiệp và dịch vụ; giảm dần tỷ trọng sản phẩm và lao động nông nghiệp; xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển nông thôn, bảo vệ môi trường sinh thái; tổ chức lại sản xuất và xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp; xây dựng nông thôn dân chủ, công bằng, văn minh, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của  nhân dân ở nông thôn.

            Những quan điểm về đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn:

 - Đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Phát triển công nghiệp, dịch vụ phải gắn bó chặt chẽ, hỗ trợ đắc lực và phục vụ có hiệu quả cho công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn.

- Ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, chú trọng phát huy nguồn lực con người, ứng dụng rộng rãi thành tựu khoa học, công nghệ; thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát huy lợi thế của từng vùng gắn với thị trường để sản xuất hàng hoá quy mô lớn với chất lượng và hiệu quả cao; bảo vệ môi trường, phòng chống, hạn chế và giảm nhẹ thiên tai, phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vng.

- Dựa vào nội lực là chính, đồng thời tranh thủ tối đa các nguồn lực từ bên ngoài, phát huy tiềm năng của các thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc; phát triển mạnh mẽ kinh tế hộ sản xuất hàng hoá, các loại hình doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nông thôn.

- Kết hợp chặt chẽ các vấn đề kinh tế và xã hội trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn nhằm giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo, ổn định xã hội và phát tnển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của người dân nông thôn, nhất là đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa; giữ gìn, phát huy truyền thống văn hoá và thuần phong mỹ tục.

- Kết hợp chặt chẽ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn với xây dựng tiềm lực và thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, thể hiện trong chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế - xã hội của eả nước, của các ngành, các địa phưởng. Đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, ổn định dân cư các vùng xung yếu, vùng biên giới, cửa khẩu, hải đảo phù hợp với chiến lược quốc phòng và chiến lược an ninh quốc gia.

            Mục tiêu tổng quát và lâu dài của công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là xây dựng một nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá lớn, hiệu quả và bền vững, có năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh cao trên cơ sở ứng dụng các thành tự khoa học, công nghệ tiên tiến đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu; xây dựng nông thôn ngày càng giàu đẹp dân chủ, công bằng, văn minh, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất phù hợp, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phát triển ngày càng hiện đại. Từ nay đến năm 2010 tập trung mọi nguồn lực để thực hiện một bước cơ bản mục tiêu tổng quát và lâu dài đó.

            Công nghiệp hóa gần liền với hiện đại hóa là giải pháp quyết định đưa đất nước ra khỏi tình trạng lạc hậu, nghèo nàn, khắc phục nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế. Một trong những đặc điểm lớn nhất trong thời đại ngày nay là sự phát triển chưa từng có trong lịch sử loài người của khoa học và công nghệ. Cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại bắt đầu khoảng từ sau Đại chiến thế giới lần th hai, đã tạo ra những lực lượng sản xuất to lớn và mới về chất, có tính quyết định thúc đẩy nền kinh tế thế giới; thay đối và chuyển hướng các cơ sở hạ tầng của sản xuất; tăng cường xu thêm toàn cầu hóa trên nhiều lĩnh vực... điều đó đặt ra, trong thời đại ngày nay, công nghiệp hóa phải gắn liền với hiện đại hóa và khoa học, công nghệ là nền tảng của công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

             Tại Hội nghị đại biểu toàn quốc VII, đảng ta đã dùng khái niệm "công nghiệp hóa, hiện đại hóa" để nói lên sự cần thiết kết hợp hai nội dung trên của quá trình phát triển; làm rõ hơn tư tưởng không chỉ đơn thuần phát triển công nghiệp, mà còn phải thực hiện chuyển dịch cơ cấu trong từng ngành, từng lĩnh vực và toàn bộ nền kinh tế quốc dần theo hướng kỹ thuật và công nghệ hiện đại. Quá trình đó không chỉ tuần tự trải qua bước cơ giới hóa, tự động hóa, tin học hóa, mà còn kết hợp công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại; tranh thủ đi nhanh vào hiện đại ở những khâu quyết định.

            Tuy đạt được những thành tựu đáng khích lệ và đã tạo ra thế và lực mới cho phép chuyển sang thời kỳ mới, thời kỳ đẩy tới một bước công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, song, nền kinh tế nước ta vẫn mang tính chất nông nghiệp lạc hậu và đất nước ta đang đứng trước những thách thức to lớn đòi hỏi bằng mọi cách phải vượt qua. Thách thc lớn nhất là nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới. Đây là nguy cơ nổi bật nhất trong bốn nguy cơ đã được Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ chỉ ra. Thực chất của nguy cơ này là, nền kinh tế của nước ta kém phát triển, công nghệ lạc hậu, hiệu quả kinh tế thấp, trong khi đó, nhiều nước trong khu vực đã có trình độ phát triển cao, có sức cạnh tranh lớn... Tụt hậu xa hơn về kinh tế sẽ dẫn đến mất ổn định về chính trị, hạn chế khả năng củng cố quốc phòng, an ninh và không thực hiện được đinh hướng xã hội chủ nghĩa.

            Ngày nay, công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải được tiến hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Thị trường phản ánh nhu cầu của xã hội, có tiếng nói quyết đinh trong việc phân bổ nguồn lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Vì thế, cùng với công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhất thiết phải mở rộng thị trường. C.Mác đã nói: Khi thị trường, nghĩa là lĩnh vực trao đổi mở rộng ra thì quy mô sản xuất cũng tăng lên, và sự phân công trong sản xuất cũng trở nên sâu sắc hơn. Thực tiễn những năm đổi mới cho thấy chính phát triển kinh tế hàng hóa, mở rộng thị trường đã thúc đẩy sản xuất phát triển, là tiền đề cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa; mặt khác, kinh nghiệm các đia phưởng đi đầu trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng cho thấy muốn phát triển một cây gì, con gì điều trước hết phải tính đến thi trường tiêu thụ. Như vậy, phát triển kinh tế thi trường và thc hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhng vấn đề trọng yếu của nền kinh tế đinh hướng xã hội chủ nghĩa; chúng liên quan mật thiết với nhau, cái này là. tiên đề và điều kiện cho cái kia phát triển và ngược lại. Cần thấu suốt các quan điểm chỉ đạo công nghiệp hóa, hiện đại hóa mà tinh thần cơ bản có thể tóm tắt như sau :

 - Công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Giữ vững độc lập tự chủ đi đôi với mở rộng hợp tác quốc tế

 - Công nghiệp hóa, hiện dại hóa là sự nghiệp của toàn dân. Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững. Khoa học, công nghệ là nền tảng của công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

 - Lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm tiêu chuẩn cơ bản để xác định phương án phát triển, lựa chọn phương án đầu tư và công nghệ.

 

C. Thực hiện chính sách cổ phần hóa doanh nghiệp.

- Đảng và nhà nước chủ trương cổ phần hoá những doanh nghiệp mà Nhà nước không cần nắm giữ 100% vốn để huy động thêm vốn, tạo động lực và cở chế quản lý năng động thúc đẩy doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả. ưu tiên cho người lao động được mua cổ phần và từng bước mở rộng bán cổ phần cho các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài. Thực hiện việc giao, bán, khoán, cho thuê các doanh nghiệp loại nhỏ mà Nhà nước không cần nắm giữ. Sáp nhập, giải thể, phá sản những doanh nghiệp không hiệu quả và không thực hiện được các biện pháp trên.

            Ngoài các chính sách trên, Đảng ta còn đưa ra nhiều chính sách đổi mới khác nhằm phát triển nền kinh tế như:

- Chính sách tài chính – tiền tệ quốc gia.

- Chính sách kinh tế đối ngoại…

            Việc đưa các chính sách đó vào cuộc sống và tạo ra những kết quả đáng mừng như sau. Đây chính là biểu hiện của việc ý thức phản ánh đúng đắn hiện thực khách quan, dẫn đến chỉ đạo hoạt động thực tiễn của con người theo đúng quy luật của hiện thực, do dó nó thúc đẩy sự phát triển của  hiện thực khách quan.

            Nhờ có tinh thần chủ động, sáng tạo và quyết tâm đổi mới của toàn Đảng, toàn dân nên ngay từ những năm  1991 - 1995 chúng ta đã tiến hành hàng loạt các biện pháp cải cách chính sách kinh tế vĩ mô để vừa gỡ bỏ cơ chế cũ, vừa tống kết kinh nghiệm xây dựng cơ chế mới. Đến nay, cơ chế mới thay thế cơ chế cũ trong việc vận hành nền kinh tế, tức là quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý đã cơ bản hoàn thành, cho phép chuyển sang thời kỳ hoàn thiện cơ chế quản lý mới theo hướng phát triển chiều sâu, tạo lập đồng bộ các yếu tố thị trường, hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, đổi mới công tác kế hoạch hoá, công tác tài chính, tiền tệ và giá cả. Đây chính là một trong những thành tựu to lớn, có ý nghĩa nhiều mặt mà chúng ta đã đạt được trong những năm vừa qua.

            Thực tiễn những năm đổi mới cho thấy chính phát triển kinh tế hàng hóa, mở rộng thị trường đã thúc đẩy sản xuất phát triển, là tiền đề cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

            Từ năm 1991 đến năm 2000 tổng sản phẩm trong nước tăng liên tục qua các năm với tốc độ tăng bình quân mỗi năm 7,56%. Nhờ vậy, đến năm 2000 tổng sản phẩm trong nước đã gấp 2,07 lần năm 1996, không những đạt và vượt mục tiêu tổng quát đề ra cho Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội 1991 - 2000 là tổng sản phẩm trong nước gấp 2 lần, mà còn đứng vào hàng các nền kinh tế trong khu vực có tốc độ tăng trưởng cao của thập niên 90. Đáng chú ý là trong cả hai kế hoạch 5 năm của thời kỳ này, các khu vực kinh tế và các ngành kinh tế then chốt, trước hết là nông nghiệp và công nghiệp đều đạt được tốc độ tăng trưởng cao. Tổng sản phẩm trong nước đến năm 2000 gấp đôi năm 1990.

            Một trong những thành tựu kinh tế to lớn nhất trong 10 năm vừa qua là phát triển nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất lương thực. Sau nhiều năm kiên trì giải quyết vấn đề lương thực, đến nay an toàn lương thực đã được khẳng định. Sản lượng lương thực qui thóc năm 2000 đạt 35,6 triệu tấn, tăng 14,1 triệu tấn so với năm 1990, bình quân mỗi năm trong 1 0 năm 1991 - 2000 tăng trên 1,4 triệu tấn. Do sản lượng lương thực tăng nhanh nên mặc dù trong 1 0 năm qua dân số nước ta đã tăng thêm gần 1 2, 1 triệu người nhưng lương thực qui thóc bình quân đầu người vẫn tăng từ 327,5kg năm 1990 lên 458,2kg năm 2000. Sản lượng lương thực năm 2000 đạt 34,5 triệu tấn, tăng 14,5 triệu tấn so với năm 1990. Lương thực bình quân đầu người tăng từ 303,2kg năm 1990 lên 443,9kg năm 2000. Lương thực sản xuất được hàng năm không những đủ tiêu dùng trong nước mà còn xuất khẩu mỗi năm 3-4 triệu tấn gạo, đưa nước ta vào danh sách những nước xuất khẩu gạo hàng đầu của thế giới.

            Sản lượng lương thực bình quân đầu người tương đối cao và lưu thông lương thực dễ dàng, thuận tiện đã tạo điều kiện cho từng vùng, từng địa phương lựa chọn cây trồng, vật nuôi phù hợp với tiềm năng và lợi thế so sánh của mình theo hướng sản xuất hàng hoá, nâng cao lượng giá trị trên một đơn vị diện tích canh tác. Do vậy, diện tích cây công nghiệp hàng năm năm 2000 đã đạt 808,7 nghìn ha, gấp gần 1,5 lần năm 1990; diện tích cây ăn quả 541,0 nghìn ha, gấp trên 1,9 lần; diện tích cây công nghiệp lâu năm 1,4 triệu ha, gấp 2,1 lần. Cùng với gạo, cà phê, cao su, hạt điều, hạt tiêu, chè, lạc, rau quả đã trở thành những mặt hàng nông sản xuất khẩu quan trọng. Trong 10 năm 1991 - 1995, bình quân mỗi năm xuất khẩu gạo tăng 7,6%, hàng rau quả tăng lo, 8%/năm; cao su tăng 12,4% /năm; cà phê tăng l7,7%/năm; hạt tiêu tăng 24,8%/năm; hạt điều tăng 37,5%/năm.

            Chăn nuôi gia súc và gia cầm cũng phát triển với tốc độ nhanh. Giá trị sản xuất của ngành chăn nuôi năm 2000 tăng 75% so với năm 1990, bình quân mỗi năm tăng 5,8%. Đến năm 2000 đàn bò có 4,1 triệu con, tăng trên 1,0 triệu con so với năm l990; đàn gia cầm 196, 1 triệu con, tăng 88,7 triệu con; đàn lợn 20,2 triệu con, tăng 7,9 triệu con; sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng 1,4 triệu tấn, gấp gần 2 lần năm 1990.

            Sản xuất công nghiệp đi dần vào thế phát triển ổn định với tốc độ tăng bình quân mỗi năm 13,6%, trong đó khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 11,4%; khu vực ngoài quốc doanh tăng 11,0%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 22,5%. Tính theo giá trị sản xuất thì qui mô sán xuất công nghiệp năm 2000 đã gấp 3,6 lần năm 1990, trong đó khu vực doanh nghiệp Nhà nước gấp trên 2,9 lần; khu vực ngoài quốc doanh gấp 2,8 lần; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài gấp 7,6 lần.

            Do kinh tế phát triển và việc quản lý điều hành của Chính phủ cũng như của các cấp, các ngành sát sao và ngày càng phù hợp với qui luật nên siêu lạm phát bị đẩy lùi. Giá cả từ tốc độ tăng hai chữ số mỗi năm trong những năm 1991 - 1995 đã giảm xuống chỉ còn tăng một chữ số trong những năm 1996 - 2000. Chỉ số giá tiêu dùng so với tháng 12 năm trước tăng 67,5% trong năm 1991 và tăng 17,5% trong năm 1992, nhưng năm 1999 chỉ còn tăng 0,1% và năm 2000 giảm 0,6%. Tương tự năm 199 1 giá vàng tăng 88,7% và giá đô la Mỹ gấp trên 2,0 lần mức giá tháng 12/1990, nhưng trong năm 2000 giá vàng giảm 1,7% và giá đô la Mỹ chỉ còn tăng 3,4% so với tháng 12/1999. Giá cả đã được kiểm soát, những cơn sốt về giá hàng hoá, giá vàng và giá ngoại tệ đã được loại trừ. Kết quả chống lạm phát vững chắc và đưa nền kinh tế ra khỏi khủng hoảng đã được thử thách và khẳng định trong cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực diễn ra năm 1997 - 1998. Cuộc khủng hoảng này tuy có làm cho nền kinh tế nước ta tăng trưởng chậm lại, nhưng không bị đảo lộn như các nền kinh tế khác.

            Cơ cấu vùng kinh tế cũng bắt đầu có sự chuyển dịch theo hướng hình thành các vùng động lực phát triển kinh tế, vùng chuyên canh và các khu công nghiệp tập trung, khu chế xuất qui mô lớn. Chúng ta chủ trương kiến tạo một nền kinh tế hàng hoá vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Do vậy, sự chuyển dịch cơ cấu các thành phần kinh tế chỉ có thể coi là tích cực nếu kinh tế Nhà nước vẫn giữ được vai trò chủ đạo; đồng thời tạo điều kiện để các thành phần kinh tế khác phát huy được tiềm năng to lớn của mình. Theo tinh thần này, mặc dù những năm vừa qua doanh nghiệp Nhà nước tuy có giảm về số lượng doanh nghiệp do tổ chức, sắp xếp lại và thực hiện chủ trương cổ phần hoá, nhưng tỷ trọng của thành phần kinh tế này chiếm trong tổng sản phẩm trong nước đã tăng từ 31,1% năm 1991 và 34,3% năm 1992 lên trên dưới 40% những năm gần đây và là thành phần kinh tế có tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu tổng sản phẩm trong nước. Tỷ trọng của các thành phần kinh tế khác chiếm trong tổng sản phẩm trong nước những năm vừa qua là : Kinh tế tập thể chiếm lo%; kinh tế cá thể, bao gồm cả hộ nông dân chiếm 30%; khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài chiếm 12%, còn lại là kinh tế tư nhân và hỗn hợp sở hữu.

            Nước ta thực hiện đường lối mở cửa và hội nhập quốc tế đúng vào thời kỳ mà thế giới chuyển từ đối đầu sang đối thoại. Công cuộc đổi mới nói chung và đổi mới kinh tế nói riêng của nước ta lại thu được những thành tựu quan trọng làm cho vị thế nước ta trên trường quốc tế được nâng lên rõ rệt. Tất cả những điều đó đã tạo môi trường thuận lợi để chúng ta thực hiện phương châm "Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trên thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển".

            Sau nhiều năm thực hiện chính sách cấm vận và bao vây kinh tế chống Việt Nam, ngày 11 - 7 - 1995 Mỹ đã tuyên bố bình thường hoá quan hệ ngoại giao với nước ta và ngày 12 - 7 - 1995 hai nước đã thiết lập quan hệ ngoại giao. Ngày 17 - 7 - 1995 nước ta và Liên minh Châu Âu đã ký Hiệp định chung về hợp tác kinh tế, thương mại và khoa học kỹ thuật. Ngày 28 – 7 - 1995 nước ta đã trở thành thành viên thứ 7 của Hiệp hội các nước Đông Nam Á. Năm 1998 nước ta đã tham gia diễn đàn kinh tế các nước Châu Á - Thái Bình Dương - APEC. Tháng 7 - 2000 nước ta ký Hiệp định thương mại với 61 nước, trong đó có Mỹ, góp phần đưa tổng số nước có quan hệ ngoại thương với nước ta từ con số 50 nước năm 1990 lên 170 nước và vùng lãnh thổ vào năm 2000. Nhờ vậy, tổng mức lưu chuyển ngoại thương năm 2000 đã đạt 29,5 tỷ USD, gấp 5,7 lần năm 1990, trong đó xuất khấu đạt 14,3 tỷ USD, gấp gần 6,0 lần; nhập khẩu đạt 15,2 tỷ USD, gấp 5,5 lần. Trong những năm 1991 - 2000 bình quân mỗi năm tổng mức lưu chuyến ngoại thương tăng 19,0%, trong đó xuất khấu tăng 19,6%/ năm; nhập khấu tăng l8,6%/năm. Xuất khẩu bình quân đầu người năm 2000 đạt 184,2 USD, đưa nước ta ra khỏi danh sách các nước có nền ngoại thương kém phát triển.

Các chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 năm 2001 - 2005 là:

- Nhịp độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm 7,5%. Tổng GDP năm 2005 gấp 2 lần so với năm 1995.

- Đến năm 2005, tỉ trọng nông, lâm, ngư nghiệp là 20 - 21% GDP; công nghiệp và xây đựng 38-39%, các ngành dịch vụ 41 - 42%.

- Giảm tỉ lệ sinh bình quân hàng năm 0,5% nhịp độ phát triển dân số vào năm 2005 khoảng - Tạo việc làm, giải quyết thêm việc làm cho khoảng 7,5 triệu lao động, bình quân 1,5 triệu lao động/năm; nâng tỉ lệ lao động qua đào tạo lên 30% vào năm 2005.

- Cở bản xóa hộ đói, giảm tỉ lệ hộ nghèo xuống còn 10% vào năm 2005.

            Những kết quả đó đã chứng minh vai trò to lớn của ý thức trong hoạt động kinh tế ở Việt Nam hiện nay.

 

2.2.4 Những yêu cầu đề ra cho Việt Nam khi bước vào nền kinh tế tri thức.  

            Quá trình phát triển của nền kinh tế thế giới trong năm 2003 và những năm tiếp theo đang dẫn đến sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ của khu vực Đông Nam á, trong đó có Việt Nam. Những nhân tố quan trọng như: Mức tiết kiệm và đầu tư cao, khát vọng mạnh mẽ làm giàu của dân chúng, một nền giáo dục phổ cập rộng rãi và một đội ngũ trí thức tưởng đối đông đảo, sự quản lý kinh tế vĩ mô được quan tâm tốt hơn, đặc biệt là sự sẵn sàng thực hiện những cải cách kinh tế vĩ mô nhằm tạo điều kiện cho việc thay đổi cơ cấu kinh tế, mở cửa hơn nửa nền kinh tế, tăng cường xuất khẩu, tăng cường các cơ hội kinh doanh của cộng đồng dân cư. Tất cả những điều đó đang thúc đẩy tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam trong thế kỷ. Có thể nói, trong gần 20 năm đổi mới vừa qua chúng ta có một cách nhìn nghiêm túc về sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Ở từng địa phương và cả quốc gia, quan tâm đến việc phát triển nông thôn và phát triển cở cấu hạ tầng nông thôn; hệ thống giáo dục cũng được phát triển nhanh chóng; lĩnh vực giao thông, bưu điện, thưởng mại, văn hóa và y tế cũng được đầu tư tưởng đối khá; đặc biệt là đầu tư cho khoa học và công nghệ đã được quan tâm tốt hởn… Mặt khác, nguồn lao động có trình độ và đông đảo đã và đang đóng góp tích cực vào sự thăng tiến của nền kình tế.

            Tuy nhiên, để đạt được tốc độ tăng trưởng cao từ 7% đến 10% liên tục trong 2 thập niên đầu thế kỷ XXI nhằm đạt được sự thành công của tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước, đưa Việt Nam trở thành một nước có nền công nghiệp phát triển thì dứt khoát phải có một chiến lược phát triển đồng bộ hơn, thông thoáng hơn và hữu dụng hơn trên cơ sở tổng hợp cao độ hơn nữa ta lực, tài lực và các nguồn lực khác để phát triển nền kinh tế. Lý luận về xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhất là lý luận về xây dựng một bộ máy hành chính khoa học cần phải được đầu tư hơn nữa nhằm tạo dựng một bộ máy công quyền khoa học, năng động. Chiến lược đó phải dựa trên cốt lõi là nền kinh tế tri thức trong mối tương tác chặt chẽ với quá trình toàn cầu hóa. Đây là một công việc không đơn giản, nó đòi hỏi sự trăn trở suy nghĩ từ mỗi người dân cho đến những người quản lý vĩ mô phải dồn mọi tâm lực để chấn hưng nền kinh tế.

            Nền kinh tế Việt Nam hiện nay tốc độ giao dịch vẫn còn rất chậm, năng suất lao động thấp, thông tin kinh tế trong nước và thế giới còn rất thiếu, số người được đào tạo thì nhiều nhưng viên thức hành xử công việc, khả năng dám chịu trách nhiệm, tính quyết đoán trong công việc vẫn hứa cao, nói một cách khác là nền giáo dục cần phải trang bị một cách tốt hơn nữa nhưng kiến thức hữu dụng cho các thế hệ học sinh để họ bước vào đời một cách tự tin, bản lĩnh và xử lý công việc nốt cách hiệu quả hơn.

            Chúng ta cần phải có một cách nhìn mới về đầu tư vào kết cấu hạ tầng, ưu tiên nhiều hơn cho việc đầu tư vào các thư viện với hàng triệu các cuốn sách báo, tạp chí trong nước và quốc tế từ cấp xã cho đến Trung ương để khai thác nguồn tài sản ta thức của nhân loại hơn là xây dựng các trụ sở quá khang trang, bàn ghế quá hiện đại nhưng nhưng cái nhìn nhân viên khô cứng và thiếu kiến thức; cần có một quy chế rõ ràng và chặt chẽ về việc bắt buộc các nhân viên ở các công sở, các sinh viên, các nhà nghiên cứu tự đọc, tự nghiên cứu các tài liệu tại văn phòng và tại các thư viện, đó là con đường tốt nhất để tự nâng cao kiến thức của toàn thể cộng đồng. Đầu tư cho hệ thống đường, trường, trạm, các chợ ở nông thôn và miền núi, đầu tư mở rộng các khu kinh tế ở các cửa khẩu biên giới, ưu tiên cho vay vốn để phát tnển các trang trại ở miền núi, ở nông thôn, ven biển là hết sức cần thiết. Việc đầu tư mạnh mẽ cho khai thác thủy sản xa bờ và phát triển các tập đoàn vận tải lớn ở Việt Nam là một việc làm cấp bách. Đầu tư nhiều hơn cho việc xuất khẩu các hàng hoá nông sản và các hàng công nghiệp như dệt may, các sản phẩm phần mềm vi tính… là hết sức cần thiết. Công nghiệp du lịch và một nền thể thao toàn dân cũng là một trong nhưng hướng phải quan tâm nhiều hơn để tạo ra một sự thăng tiến đồng bộ của nền kinh tế. Xuất khẩu lao động sang các nước Đông Bắc Á, Châu Phi và các nước khác cũng là một mũi nhọn mà chúng ta phải quan tâm thực sự.

            Những thành tựu của các mục tiêu tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế tiến tới năm 2020 và những năm tiếp theo tùy thuộc rất nhiều vào việc chúng ta phải hoạch định được một chiến lược cán bộ để có thể đáp ứng những đòi hỏi khắt khe của quá trình tăng trưởng kinh tế, xây dựng được một qui chế cất nhắc nhân tài và thực hiện tốt qui chế đó, tăng cường luân chuyển cán bộ, trân trọng người hiền tài ở mọi nởi, giúp cho người nghèo có công ăn việc làm, tăng cường xuất khẩu nhân lực có trình độ cao.

            Thực tế cho thấy số lượng những sinh viên của chúng ta được đào tạo đại học là tưởng đối đông; số lượng những nhà khoa học có trình độ tiến sĩ cũng không phải là ít nhưng do chúng ta chưa có một chính sách đãi ngộ thỏa đáng nên những nhân tài đó vẫn chỉ tập trung ở Hà Nội và một số đô thị, trong khi ở cấp xã, cấp huyện và cấp tỉnh ở hầu hết các địa phương trên cả nước vẫn thiếu vắng những người có trình độ đại học trở lên. Đã đến lúc chúng ta phải cải tiến chế độ đãi ngộ, phải có một chế độ đãi ngộ thỏa đáng cho những người đởn thuần làm công tác chuyên môn, để họ có thể sống bằng đồng lưởng của mình, họ sẵn sàng về đến các xã, đến huyện để công tác trên cơ sở các phụ cấp được phải đảm bảo như ở thành phố thì mới khuyến khích được nhân tài về các địa phưởng xa xôi cống hiến tài năng cho đất nước. Quy trình cất nhắc nhân tài cũng phải nhanh chóng, để có thể cất nhắc kịp thời người có tài trong mọi lĩnh vực, nhất là những người trẻ tuổi, được đào tạo cơ bản, có bản lĩnh, điều hành công việc có hiệu quả, trách nhiệm cao trong công việc để từ đó hình thành một đội ngũ những công chức thạo việc, những nhà quản lý công tâm say sưa vì công việc, vì sự phồn vinh của đất nước trong thế kỷ XXI. 

 

3. Kết luận:

            Từ quá trình nghiên cứu vai trò của ý thức đối với hoạt động kinh tế ở Việt Nam, chúng ta rút ra bài học phải xuất phát t thực tế khách quan, tôn trọng và hành động tuân theo quy luật khách quan. Ý thức phản ánh đúng đắn  hiện thực khách quan, nó chỉ đạo hoạt động thực tiễn của con người theo đúng quy luật của hiện thực, do dó nó sẽ thúc đẩy sự phát triển của  hiện thực khách quan. Ý thức phản ánh không đúng  hiện thực khách quan, nó chỉ đạo hoạt động thực tiễn của con người không đúng quy luật, do đó nó sẻ cản trở, kìm hăm sự phát triển của hiện thực khách quan.

            Vì vậy, phải phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức, phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò nhân tố con người để tác động cải tạo thế giới khách quan, đồng thời phải khắc phục bệnh bảo thủ trì trệ, thái độ tiêu cực, thụ động, ỷ lại, ngồi chờ trong quá trình đổi mới hiện nay.

            Nhận thức rõ vai trò của ý thức đối với hoạt động kinh tế (từ lý luận và cả thực tiễn ở Việt Nam), muốn phát triển kinh tế của Việt Nam trước hết phải đổi mới tư duy kinh tế. Phải nhận thức lại được bản chất kinh tế của thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trong xã hội XHCN nói chung và ở Việt Nam nói riêng, nhận thức được các quy luật và các hình thức phát triển kinh tế trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội và ở Việt Nam. Thấy được sự phát triển tất yếu của kinh tế thị trường cùng với những ưu, nhược điểm của nó, Đảng ta đã có bước đổi mới căn bản trong nhận thức và tư duy lý luận, xem quá trình chuyển từ nền kinh tế hiện vật với cơ chế quản lý tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá như một bộ phận hữu cơ của quá trình đưa nước ta từ sản xuất nhỏ đi lên sản xuất lớn XHCN.

            Nước ta thực hiện đường lối mở cửa và hội nhập quốc tế đúng vào thời kỳ mà thế giới chuyển từ đối đầu sang đối thoại. Công cuộc đổi mới nói chung và đổi mới kinh tế nói riêng của nước ta lại thu được những thành tựu quan trọng làm cho vị thế nước ta trên trường quốc tế được nâng lên rõ rệt. Tất cả những điều đó đã tạo môi trường thuận lợi để chúng ta thực hiện phương châm "Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trên thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển".

 

XIN GHI RÕ XUẤT XỨ KHI TRÍCH DẪN TÀI LIỆU NÀY!


Tài liệu tham khảo

 

---------------------------------------------------------------------------------------------------------

 

1.     Báo cáo chính trị của BCH trung ương Đảng khoa VIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng. Đảng Cộng Sản Việt Nam. NXB Chính trị quốc gia, 4/2001.

 

2.     Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001-2010. Báo cáo của BCH TƯ Đảng khóa VIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng. Tháng 4-2001.

 

3.     ơng lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chù nghĩa xã hội. Đảng Cộng sản Việt Nam. NXB Sự thật, Hà Nội, 1991

 

4.     Phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Báo cáo của BCH TƯ Đảng khóa VIII về các văn kiện tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng do Tổng bí thư Lê Khả Phiêu trình bày ngày 19-4-2001.

 

5.     Văn kiện hội nghị lần thứ năm BCH trung ương khóa IX. Đảng Cộng Sản Việt Nam. NXB Chính trị quốc gia, 2002.

 

6.     Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII. Đảng Cộng sản Việt Nam. NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.93.

 

---------------------------------------------------------------------------------------------------------

 

7.     5 Bài học lý luận chính trị cho đoàn viên thanh niên. Ban bí thư Trung ương Đoàn. NXB Thanh Niên, 1999.

 

8.     Chủ nghĩa xã hội khoa học. Chương trình trung cấp. Vụ biên soạn Ban tuyên huấn Trung ương. NXB Sách Giáo khoa Mác-Lênin, 1979.

 

9.     Giáo trình Triết học Mác-Lênin. NXB Chính trị quốc gia, 2002. GS, TS. Nguyễn Hữu Vui – GS, TS. Nguyễn Ngọc Long (chủ biên).

 

10. Tài liệu học tập chính trị cho học viên lớp bồi dưỡng kết nạp Đảng. Ban tư tưởng văn hóa trung ương. NXB Chính trị quốc gia, 1997.

 

---------------------------------------------------------------------------------------------------------

 

11. Các giải pháp phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam thế kỉ XXI. NXB Thanh Niên, 2003. TS. Trần Xuân Kiên. Vc/92 37026.

 

12. Giai cấp công nhân và tổ chức công đoàn Việt Nam trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. NXB Lao động, 2003. PGS, TS. Nguyễn Viết Vượng (chủ biên).

 

13. Sổ tay Niên giám thống kê 2000. Tổng cục thống kê. NXB Thống kê, 2001.

 

14. Tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam 10 năm 1991-2000. Tổng cục thống kê. NXB Thống kê, 2/2001.

 

15. Việt Nam trên đà lột xác, trích cuốn Tân thư của Đỗ Mậu. Tạp chí cộng sàn, số 10. Tháng 8-1995, tr.68.

 

16. Xu hướng biến động của nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam. NXB Chính trị quốc gia, 1998. PGS, PTS. Nguyễn Tĩnh Gia (chủ biên). Vc/92 23879.

 

 

100 MB free hosting. Click here to build your own free site.