LUẬT ĐẠI CƯƠNG.

 

Câu 1 (2): Trình bày vị trí, thẩm quyền của Quốc Hội (Chính phủ). Vị trí và thẩm quyền đó thể hiện rõ trong nội dung các văn bản do Quốc Hội (Chính phủ) ban hành như thế nào?

 

            Bộ máy nhà nước CHXHCN Việt Nam là hệ thống các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương, được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc thông nhất tạo thành một cơ chế đồng bộ để thực hiện chức năng và nhiệm vụ của nhà nước.

            Đặc điểm của bộ máy nhà nước là bao gồm rất nhiều các cơ quan nhà nước khác nhau. Tuy nhiên các cơ quan đó đều được sắp xếp theo những trật tự nhất định và có mối liên kết chặt chẽ tạo thành một hệ thống các cơ quan. Bộ máy nhà nước là một hiện tượng mang tính lịch sử (có chu trình vận động). Trong thực tế, bộ máy nhà nước ta kể từ khi được thiết lập sau khi giành chính quyền cũng đã trải qua nhiều lần biến đổi. Trong đó có 4 lần biến đổi lớn được ghi nhận trong Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992. Theo Hiến pháp 1992, bộ máy nhà nước ta bao gồm: quốc hội, chủ tịch nước, chính phủ, HĐND – UBND, TAND – Viện KSND.

           

Quốc hội:

Vị trí pháp lí: quy định ở điều 83 Hiến pháp do Quốc hội khóa VIII kì họp thứ XI thông qua ngày 15-04-1992.

- Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước CHXHCN Việt Nam.

+ Trên thực tế, chúng ta có 2 loại cơ quan đại biểu là Quốc hội và Hội đồng nhân dân. Tuy nhiên Quốc hội thể hiện đó là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân ở các nội dung sau:

·    Quốc hội là cơ quan duy nhất do nhân dân cả nước bầu ra theo nguyên tắc trực tiếp bình đẳng, bỏ phiếu kín.

·    Các đại biểu Quốc hội không những là đại diện cho nhân dân ở khu vực bầu cử mà còn đại diện cho nhân dân cả nước.

·    Quốc hội là cơ quan nhà nước duy nhất mà ở đó có sự tập trung được đầy đủ mọi thành phần, mọi tầng lớp.

·    Quốc hội có những chức năng nhiệm vụ do nhân dân giao phó, phục vụ vì lợi ích chung của nhân dân. Ở Quốc hội có sự thể hiện được ý chí nguyện vọng của nhân dân.

+ Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất thể hiện ở những nội dung sau:

·    Quốc hội là cơ quan nhà nước duy nhất mà ở đó có sự tập trung và thống nhất cả 3 thứ quyền lực: hành pháp, lập pháp và tư pháp.

·    Quốc hội là cơ quan nhà nước duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp.

·    Quốc hội có quyền quyết định những vấn đề quan trọng nhất của đất nước.

·    Quốc hội có quyền giám sát tối cao đối với các cơ quan trong bộ máy nhà nước.

 

Thẩm quyền của Quốc hội: được qui định ở điều 84 Hiến pháp 92, được sửa đổi bổ sung theo nghị quyết của Quốc hội ngày 25-12-2001. Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

1.      Làm Hiến pháp và sửa đồi Hiến pháp; làm luật và sửa đổi luật; quyết định chương trình xây dựng luật, pháp lệnh;

2.      Thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp; luật và nghị quyết của Quốc hội; xét báo cáo hoạt động của Chủ tịch nước; Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

3.      Quyết định kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước;

4.      Quyết định chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia; quyết định dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách trung ương, phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước; quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế;

5.      Quyết định chính sách dân tộ, chính sách tôn giáo của nhà nước;

6.      Quy định tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, TAND, VKSND và chính quyền địa phương;

7.      Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, các Phó Chủ tịch Quốc hội và các ủy viên Ủy ban thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án TAND tối cao, Viện trưởng VKSND tối cao; phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ; phê chuẩn đề nghị của Chủ tịch nước về danh sách thành viên Hội đồng quốc phòng và an ninh; bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn;

8.      Quyết định thành lập, bãi bỏ các Bộ và các cơ quan ngang Bộ của Chính phủ; thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; thành lập hoặc giải thể đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt;

9.      Bãi bỏ các văn bản của Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, TAND tối cao và VKSND tối cao trái với Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội;

10.  Quyết định đại xá;

11.  Quy định hàm, cấp trong các lực lượng vũ trang nhân dân, hàm, cấp ngoại giao và những hàm, cấp Nhà nước khác; quy định huân chương, huy chương và danh hiệu vinh dự Nhà nước.

12.  Quyết định vấn đề chiến tranh và hòa bình; quy định về tình trạng khẩn cấp, các biện pháp đặc biệt khác bảo đảm quốc phòng và an ninh quốc gia;

13.  Quyết định chính sách cơ bản về đối ngoại; phê chuẩn hoặc bãi bỏ các điều ước quốc tế do Chủ tịch nước trực tiếp ký; phê chuẩn hoặc bãi bỏ các điều ước quốc tế khác đã được ký kết hoặc gia nhập theo đề nghị của Chủ tịch nước;

14.  Quyết định việc trưng cầu ý dân.

 

Tổ chức hoạt động: Quốc hội có nhiệm kì 5 năm. Trong suốt nhiệm kì, hoạt động của Quốc hội được đảm bảo bởi các hoạt động sau:

·    Kì họp Quốc hội: là dạng hoạt động của tập thể Quốc hội. Mỗi năm họp 2 kì, mỗi kì 30-40 ngày (khoảng tháng 4-5, tháng 10-11)

·    Hoạt động của Ủy ban thường vụ Quốc hội: là dang hoạt động thường trực của Quốc hội.

·    Hoạt động của Chủ tịch Quốc hội: chủ tọa các phiên họp, kí chứng thực các văn bản của Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội, lãnh đạo hoạt động của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

·    Hoạt động của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của quốc hội (7 ủy ban), đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội.

 

Văn bản qui phạm pháp luật do Quốc hội ban hành: có 3 loại: hiến pháp, luật, nghị quyết.

Hiến pháp: là văn bản có giá trị pháp lí cao nhất của nước ta. Được coi như là nguồn gốc luật cơ bản của nhà nước ta.

- Nội dung qui định những vấn đề cơ bản nhất bao gồm 3 nhiệm vụ: qui định chế độ chính trị kinh tế, văn hóa, xã hội (qui định về nền tảng của đất nước, xã hội); qui định quyền, nghĩa vụ cơ bản của nhân dân; qui định về tổ chức bộ máy nhà nước.

- Hiến pháp được duy nhất Quốc hội mới có quyền sửa đổi, ban hành. Muốn thông qua phải cần ít nhất 2/3 tổng số đại biểu có mặt tán thành. Trong thực tế, Hiến pháp nước ta đã trải qua nhiều lần thay đổi: 1946, 1959, 1980, 1992, 25-12-2001.

Luật: là văn bản có giá trị pháp lí chỉ đứng sau Hiến pháp. Luật sẽ cụ thể hóa những nguyên tắc được qui định trong Hiến pháp, hoặc là qui định những vấn đề hết sức cần thiết khác mặc dù Hiến pháp chưa đề cập nhưng có nhu cầu cần phải điều chỉnh bằng luật.

- Nội dung qui định các vấn đề cơ bản, quan trọng thuộc các lĩnh vực về đối nội, đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân.

- Luật có thể tồn tại dưới hình thức bộ luật hoặc các đạo luật. Bộ luật là các văn bản trong đó qui định được tất cả hoặc hầu hết các vấn đề của 1 lĩnh vực xã hội cần điều chỉnh. Hiện nay có các bộ luật: hình sự, tố tụng hình sự, dân sự, lao động, hàng hải. Đạo luật chỉ qui định 1 hoặc 1 số vấn đề của lĩnh vực quan hệ xã hội cần điều chỉnh. Hiện nay có rất nhiều đạo luật (trên 60). Luật cũng chỉ có duy nhất Quốc hội có quyền ban hành.

Nghị quyết: mang tính qui phạm ít. Được Quốc hội ban hành để quyết định kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia, chính sách dân tộc, tôn giáo, đối ngoại, quốc phòng, an ninh, dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách nhà nước, điều chỉnh ngân sách nhà nước, phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước, phê chuẩn điều ước quốc tế, quyết định chế độ làm việc của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, đại biểu Quốc hội và quyết định các vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Quốc hội.

 

Văn bản do Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành: pháp lệnh, nghị quyết.

Pháp lệnh: là văn bản có tính qui phạm rất cao, hiệu lực đứng sau văn bản luật (hiến pháp, luật, nghị quyết). Tuy nhiên, lại đứng đầu hệ thống văn bản dưới luật. Nội dung quy định về những vấn đề được Quốc hội giao, sau 1 thời gian thực hiện trình Quốc hội xem xét, quyết định ban hành thành Luật.

Nghị quyết: được ban hành để giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh, giám sát việc thi hành Hiến pháp, văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, giám sát hoạt động của Chính phủ, TAND tối cao, VKSND tối cao, giám sát và hướng dẫn hoạt động của Hội đồng nhân dân, quyết định tuyên bố tình trạng chiến tranh, tổng động viên hoặc động viên cục bộ, ban bố tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc từng địa phương và quyết định những vấn đề  khác thuộc thẩm quyền của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

 

Chính phủ:

Vị trí pháp lí: điều 109 Hiến pháp 1992. Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước CHXHCN Việt Nam.

+ Chính phủ thề hiện đó là cơ quan chấp hành của Quốc hội ở những nội dung sau:

·    Chính phủ do Quốc hội lập ra, thực hiện những nhiệm vụ và quyền hạn do Quốc hội qui định (thông qua Hiến pháp và pháp luật).

·    Trong quá trình thực hiện, Chính phủ phải thường xuyên có chế độ báo cáo.

·    Chính phủ phải chịu trách nhiệm trước Quốc hội, chịu sự kiểm tra giám sát của Quốc hội.

+ Trong thực tế, có rất nhiều cơ quan hành chính nhà nước như Chính phủ, UBND các cấp… Nhưng trong đó, Chính phủ thể hiện là cơ quan hành chính cao nhất ở các nội dung sau:

·    Chính phủ có quyền lãnh đạo các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và UBND các cấp.

·    Chính phủ thống nhất quản lí các mặt của đời sống xã hội trên phạm vi cả nước.

 

Thẩm quyền: điều 112 Hiến pháp 1992, sửa đổi bổ sung theo nghị quyết Quốc hội 51/2001/QH10 ngày 25-12-2000.

1.      Lãnh đạo công tác của các Bộ, các cơ quan ngang Bộ và các cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các cấp, xây dựng và kiện toàn hệ thống thống nhất bộ máy hành chính Nhà nước từ trung ương đến cơ sở; hướng dẫn kiểm tra HĐND thực hiện các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên; tạo điều kiện để HĐND thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn theo luật định; đào tạo, bồi dưỡng, sắp xếp và sử dụng đội ngũ viên chức nhà nước;

2.      Bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật trong các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang và công dân; tổ chức và lãnh đạo công tác tuyên truyền, giáo dục Hiến pháp và pháp luật trong nhân dân;

3.      Trình dự án luật, pháp lệnh và các dự án khác trước Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội;

4.      Thống nhất quản lý việc xây dựng, phát triển nền kinh tế quốc dân; thực hiện chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia; quản lý và bảo đảm việc sử dụng có hiệu quả tài sản thuộc sở hữu toàn dân; phát triển văn hóa, giáo dục, y tế, khoa học và công nghệ, thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước;

5.      Thi hành những biện pháp bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tạo điều kiện cho công dân sử dụng quyền và làm tròn nghĩa vị của mình, bảo vệ tài sản, lợi ích của nhà nước và của xã hội; bảo vệ môi trường;

6.      Củng cố và tăng cường nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân; bảo đảm an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dân; thi hành lệnh động viên, lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp và mọi biện pháp cần thiết khác để bảo vệ đất nước.

7.      Tổ chức và lãnh đạo công tác kiểm kê, thống kê của nhà nước; công tác thanh tra và kiểm tra nhà nước, chống quan liêu, tham nhũng trong bộ máy nhà nước; công tác giải quyết khiếu nại tố cáo của công dân;

8.      Thống nhất quản lý công tác đối ngoại; đàm phán, ký kết điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước CHXHCN Việt Nam, trừ trường hợp quy định tại điểm 10 Điều 103; đàm phán, ký, phê duyệt, gia nhập điều ước quốc tế nhân danh Chính phủ; chỉ đạo việc thực hiện các điều ước quốc tế mà CHXHCN Việt Nam ký kết hoặc gia nhập; bảo vệ lợi ích của nhà nước, lợi ích chính đáng của tổ chức và công dân Việt Nam ở nước ngoài.

9.      Thực hiện chính sách xã hội, chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo;

10.  Quyết định việc điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính dưới cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

11.  Phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân trong khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình; tạo điều kiện để các tổ chức đó hoạt động có hiệu quả.

 

Tổ chức hoạt động của Chính phủ: Chính phủ do Quốc hội lập ra, có nhiệm kì 5 năm theo nhiệm kì Quốc hội. Trong suốt nhiệm kì, hoạt động của Chính phủ được bảo đảm bởi sự kết hợp giữa các dạng hoạt động của tập thể Chính phủ, của Thủ tướng Chính phủ, của các thành viên khác trong Chính phủ.

·    Hoạt động của tập thể Chính phủ: thực hiện thông qua các phiên họp Chính phủ. Tại phiên họp này, tất cả các thành viên Chính phủ sẽ được triệu tập để cùng quyết định, bàn bạc các công việc của Chính phủ. Mỗi tháng, Chính phủ sẽ họp thường kì một lần, bắt đầu vào ngày thứ 4 cuối cùng trong tháng. Thành viên Chính phủ bao gồm: Thủ tướng, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng các bộ (20 bộ), thủ trưởng cơ quan ngang bộ (6 cơ quan). Sản phẩm của hoạt động tập thể này là các nghị quyết, nghị định.

·    Hoạt động của Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải: lãnh đạo, điều hành hoạt động của Chính phủ và hệ thống hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương. Giúp việc cho Thủ tướng là 3 Phó Thủ tướng: Nguyễn Tấn Dũng (thường trực), Vũ Khoan, Phạm Gia Khiêm. Công việc do Thủ tướng giao được thực hiện theo quyết định 119/2002.

·    Hoạt động của các thành viên khác: tham gia vào các hoạt động chung của Chính phủ, đứng đầu lãnh đạo một ngành, lĩnh vực nào đó.

 

Cơ cấu tổ chức của Chính phủ: bao gồm 2 cơ quan: Bộ và cơ quan ngang Bộ.

- Bộ là cơ quan "của" Chính phủ, thực hiện chức năng quản lí nhà nước đối với ngành lĩnh vực trên phạm vi cả nước, quản lí các dịch vụ công của ngành. Thực hiện tư các đại diện chủ sở hữu phần vốn của nhà nước tại các doanh nghiệp có vốn của nhà nước. Bộ trưởng giữ vai trò cao nhất.

- Ngoài bộ và các cơ quan ngang bộ là các cơ quan của Chính phủ do Quốc hội quyết định thành lập. Trong thực tế còn có cơ quan thuộc Chính phủ: do Chính phủ thành lập giúp Thủ tướng trên một số mảng công việc nhất định.

 

Các văn bản qui phạm pháp luật do Chính phủ ban hành: nghị quyết, nghị định.

Nghị quyết của Chính phủ thường dùng để đưa ra những biện pháp, chủ trương, chính sách lớn về quản lí nhà nước. Được qui định cụ thể tại Điểm 1 Điều 56 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 12-11-1996.

Nghị định là văn bản có tính qui phạm cao, gồm 2 nội dung: (Điểm 2 Điều 56)

- Nghị định qui định chi tiết thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội, Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước; quy định nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác thuộc thẩm quyền của Chính phủ thành lập; các biện pháp cụ thể để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ;

- Nghị định qui định những vấn đề hết sức cần thiết nhưng chưa đủ điều kiện xây dựng thành luật hoặc pháp lệnh để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, quản lý xã hội. Việc ban hành nghị định này phải được sự đồng ý của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

 

Văn bản qui phạm Pháp luật do Thủ tướng Chính phủ ban hành: quyết định, chỉ thi. (Điều 57)

Quyết định: được ban hành để quyết định các chủ trương, biện pháp lãnh đạo, điều hành hoạt động của Chính phủ và hệ thống hành chính nhà nước từ trung ương đến cơ sở, quy định chế độ làm việc với các thành viên Chính phủ, Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ.

Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ qui định các biện pháp chỉ đạo, phối hợp hoạt động của các thành viêm Chính phủ; đôn đốc và kiểm tra hoạt động của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các cấp trong việc thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật của nhà nước, các quyết định của Chính phủ.

 

Văn bản qui phạm Pháp luật do Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ ban hành: quyết định, chỉ thị, thông tư. (Điều 58)

Quyết định: dùng để qui định về tổ chức hoạt động, nhiệm vụ quyền hạn của các cơ quan đơn vị trực thuộc Bộ đó; qui định về qui trình, qui phạm, định mức kinh tế kĩ thuật, tiêu chuẩn của ngàn, lĩnh vực mà Bộ đó quản lí; qui định những vấn đề khác để đảm bảo việc quản lí ngành, lĩnh vực của mình.

Chỉ thị: dùng để chỉ đạo phối hợp, kiểm tra đôn đốc các cơ quan đơn vị trực thuộc.

Thông tư: dùng để hướng dẫn thi hành, hướng dẫn thực hiện những vấn đề có liên quan đến ngành lĩnh vực mà Bộ đó phụ trách.

 

Câu 3: Trình bày bản chất, khái niệm, các đặc điểm chung của Pháp luật. Trên cơ sở đó hãy so sánh Pháp luật với đạo đức (điều lệ Đoàn).

 

Nguồn gốc ra đời: Pháp luật cũng như nguồn gốc ra đời nhà nước cũng đều gắn bó với nhau. Những nguyên nhân, điều kiện làm xuất hiện nhà nước cũng chính là những nguyên nhân, điều kiện làm xuất hiện Pháp luật.

- Trong xã hội nguyên thủy, để quản lí các vấn đề, các công việc phát sinh, để quản lí hành vi của mọi người, các cơ chế quản lí thời bấy giờ là những phong tục tập quán, tín điều tôn giáo. Xuất phát từ đặc điểm xã hội mang tính chất bình đẳng.

- Khi xã hội bắt đầu có sự phân hóa, có các tầng lớp, giai cấp giàu nghèo. Thì lúc đó đã xuất hiện các quy tắc mang tính chất không bình đẳng. Đặc biệt khi xuất hiện nhà nước, nhà nước sẽ giữ lại các qui tắc trong phong tục tập quán, tín điều tôn giáo mà nó có lợi cho giai cấp thống trị để điều chỉnh mọi người. Đồng thời, nhà nước cũng đặt ra thêm các quy tắc mới. Kết quả, thu được 1 hệ thống các quy tắc bao gồm cả các quy tắc kế thừa của thời kì trước và những qui tắc mới được đặt ra, dùng để điều chỉnh hành vi của mọi người trong xã hội. Đây chính là Pháp luật.

Bản chất của Pháp luật:

- Pháp luật mang bản chất giai cấp, thể hiện ở các quy tắc Pháp luật phải phù hợp với ý muốn, ý chí của các giai cấp thống trị. Các quy tắc của Pháp luật cũng phải nhằm đến mục đích chung là bảo vệ quyền lợi, địa vị cho giai cấp thống trị.

- Pháp luật còn thể hiện bản chất xã hội, phải bảo vệ những lợi ích chung của toàn xã hội.

Khái niệm: Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung do nhà nước thừa nhận hoặc đặt ra, thể hiện được ý chí của giai cấp thống trị.

Đặc điểm chung:

- Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung: Pháp luật bao gồm rất nhiều quy tắc xử sự khác nhau. Mỗi quy tắc đều là khôn mẫu ứng xử của con người. Tất cả các quy tắc này được liên kết chặt chẽ tạo thành 1 hệ thống các quy tắc. Hệ thống các quy tắc đó tạo nên những khuôn mẫu, khuôn khổ, hành lang pháp lí để hướng dẫn cách xử sự của mọi người. Nó sẽ cho các chủ thể biết họ được làm gì, phải không được làm gì. Việc thực hiện theo khuôn mẫu đó mang tính bắt buộc chung, thể hiện ở chỗ áp dụng chung cho mọi người, dù muốn hay không muốn phải thực hiện theo khuôn mẫu đó.

- Pháp luật do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và nhà nước có cơ chế để bảo vệ đối với các quy tắc đó.

- Pháp luật bao giờ cũng thể hiện được ý chí của giai cấp thống trị.

 

So sánh Pháp luật với đạo đức:

Giống: Pháp luật là 1 hệ thống các qui tắc khác nhau dùng để điểu chỉnh hành vi của mọi người như đạo đức. Mục đích điều chỉnh đều hướng tới một mục đích là điều chỉnh mọi người theo hướng tốt lên.

Khác:

- Pháp luật có nguồn gốc do các cơ quan nhà nước tạo ra, được thể hiện dưới dạng văn bản. Tính quy phạm có độ chính xác cao, chặt chẽ. Trong khi đó, đạo đức không phải do cơ quan nào tạo ra, hình thành 1 cách tự phát trong xã hội, được bồi đắp qua từng thế hệ, không tồn tại dưới dạng văn bản mà tồn tại qua truyền miệng dân gian: truyện, ca dao, tục ngữ.. Độ chính xác không cao.

- Pháp luật bao giờ cũng thể hiện rõ ý chí của giai cấp thống trị. Đạo đức có thể truyền tải ý chi mong muốn, nguyện vọng của 1 cá nhân, 1 tập thể, cộng đồng hoặc cả dân tộc.

- Pháp luật có tính bắt buộc chung, mọi người dù muốn hay không muốn vẫn phải tuân theo. Đạo đức có tính bắt buộc nhưng tính bắt buộc chung không rõ, từng chỗ khác nhau. Nếu không thực hiện Pháp luật sẽ bị cưỡng chế. Nếu không thực hiện đạo đức sẽ bị dư luận xã hội lên án, danh dự uy tín và lương tâm cắn rứt…

Mối quan hệ ràng buộc giữa đạo đức và Pháp luật:

- Pháp luật bao giờ cũng thể hiện rất rõ đạo đức của giai cấp thống trị, cầm quyền.

- Các quy tắc đạo đức không có tính cưỡng chế nhà nước, tuy nhiên 1 số quy tắc đạo đức được lựa chọn để nâng lên thành Pháp luật, có tính cưỡng chế nhà nước.

- Việc áp dụng các quy tắc đạo đức thì nhà nước không cấm. Nhưng không được áp dụng quy tắc đạo đức đã lỗi thời, trái với qui định pháp luật hiện hành.

 

So sánh Pháp luật với điều lệ Đoàn:

Giống:

- bao gồm rất nhiều quy tắc.

- tồn tại dưới dạng văn bản.

Khác:

- PL là do nhà nước đặt ra, ban hành. Điều lệ Đoàn do tổ chức Đoàn đặt ra.

- PL để điều chỉnh mọi người trong xã hội. ĐL áp dụng cho Đoàn viên.

- PL thể hiện ý chí của giai cấp thống trị. ĐLl thể hiện ý chí của các thành viên trong tổ chức. Nhìn chung cũng phù hợp theo ý chí của giai cấp thống trị.

- PL đảm bảo bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước. ĐL đảm bảo bằng các hình thức kỉ luật do tổ chức đó đặt ra, ghi nhận trong điều lệ. Ví dụ: khiển trách, cảnh cáo, cách chức, khai trừ..

Mối quan hệ: ĐL không được trái với qui định của PL. Đoàn viên vừa chịu sự điều chỉnh của ĐL, PL. Cả 2 cùng hỗ trợ nhau để tác động, điều chỉnh đối tượng Đoàn viên.

 

Câu 4: Trình bày chế định pháp nhân và việc phân loại pháp nhân. Mỗi loại cho ví dụ.

 

            Quan hệ pháp luật là quan hệ giữa người với người được các quy phạm pháp luật điều chỉnh, biểu hiện thành các quyền, nghĩa vụ pháp lí cụ thể của các bên, được đảm bảo bằng cưỡng chế nhà nước. Các bộ phận cấu thành của quan hệ pháp luật là chủ thể, nội dung, cách thể.

            Chủ thể là cái bên trong mối quan hệ pháp luật được pháp luật tác động, điều chỉnh trao cho quyền, nghĩa vụ pháp lí nhất định và họ có khả năng thực hiện được các quyền, nghĩa vụ pháp lí đó. Muốn là chủ thể cần 2 điều kiện:

- phải được pháp luật tác động, trao cho quyền, nghĩa vụ pháp lí à có năng lực pháp luật.

- có thể bằng hành vi của mình thực hiện được các nghĩa vụ pháp lí mà pháp luật giao à có năng lực hành vi.

            Chủ thể có hai loại thể nhân và pháp nhân. Pháp nhân được hiểu là 1 tổ chức có đầy đủ các điều kiện do pháp luật qui định. Tổ chức này có đầy đủ các điều kiện à được nhà nước thừa nhận có đủ năng lực pháp luật, năng lực hành vi để tham gia vào các hoạt động pháp luật.

            Hiện nay, các điều kiện để 1 tổ chức được công nhận là 1 pháp nhân được quy định ở điều 94 Bộ luật dân sự. Tất cả các ngành luật khác đều lấy cấc điều kiện này là điều kiện để công nhận pháp nhân của ngành mình. Các điều kiện đó bao gồm:

. Được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập, cho phép thành lập, đăng kí hoặc công nhận. Đây chính là điều kiện thể hiện tính thành lập hợp pháp của tổ chức và tính hoạt động hợp pháp của tổ chức.

- Thành lập hợp pháp tức là việc thành lập theo đúng trình tự thủ tục mà pháp luật qui định. Hiện nay bao gồm 3 loại trình tự chính sau:

·    Tổ chức đó được nhà nước trực tiếp đứng ra thành lập. Trước hết, sáng kiến, ý tưởng thành lập tổ chức này xuất phất từ nhà nước. Trên cơ sở có sáng kiến thành lập đó, họ làm 1 bộ hồ sơ đề nghị thành lập gửi lên cơ quan có thẩm quyền. Cơ quan có thẩm quyền sẽ tiến hành thẩm định. Dựa trên kết quả thẩm định, nếu thấy phù hợp sữ trực tiếp ra quyết định thành lập nên tổ chức đó. Loại này áp dụng thành lập các cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp nhà nước.

·    Tổ chức đó được nhà nước cho phép thành lập. Sáng kiến ý tưởng thành lập tổ chức của sáng lập viên. Trên cơ sở sáng kiến đó, họ sẽ tiến hành làm bộ hồ sơ xin phép thành lập gửi đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Cơ quan có thẩm quyền sẽ tiến hành xem xét và ra quyết định cho phép thành lập. Loại trình tự này hiện nay chỉ áp dụng đối với việc thành lập hợp tác xã hoặc các tổ chức xã hội, xã hội nghề nghiệp.

·    Công nhận hoặc cho đăng kí thành lập. Sáng kiến thành lập tổ chức cũng xuất phát từ các sáng lập viên. Sau khi có ý tưởng ð tiến  hành thành lập. Tuy nhiên, họ phải thành lập theo những mô hình mẫu mà nhà nước đã qui định. Sau đó chỉ cần đăng kí việc thành lập. Việc đăng kí này giống đăng kí  khai sinh. Hiện nay, trình tự này được áp dụng rộng rãi đối với các loại hình doanh nghiệp, trừ doanh nghiệp nhà nước.

- Hoạt động hợp pháp. Các tổ chức sau khi đã được thành lập hợp pháp xong thì có thể được phép tiến hành các hoạt động hợp pháp theo đúng chức năng ngành nghề của tổ chức. Tuy nhiên có 1 số ngành nghề muốn hoạt động thì tổ chức còn phải xin thêm 1 số giấy phép.

?. Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ. Điều kiện này thể hiện tính thống nhất của tổ chức, để biến 1 tổ chức từ bản chất là 1 nhóm người thành một thực thể, chỉnh thể thống nhất. Nội dung thể hiện ở chỗ tổ chức phải có bộ máy quản lí, có cơ cấu các phòng ban chức năng, có các thành viên và mỗi vị trí đều có chức năng nhiệm vụ riêng, tất cả được liên kết với nhau 1 cách chặt chẽ.

?. Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó. Đây là điều kiện thể hiện tính bảo đảm về mặt vật chất cho các chủ thể khi tham gia các hoạt động pháp luật. Nội dung thể hiện ở chỗ tổ chức trước hết phải có tài sản. Khối tài sản này có thể hình thành bằng nhiều cách khác nhau. Tuy nhiên, nó là 1 khối tài sản riêng, thuộc quyền quản lí của tổ chức (đối với trường hợp được nhà nước giao toàn bộ vốn). Chính vì vậy, khối tài sản này sẽ tách biệt so với tài sản của các tổ chức khác, cá nhân khác, kể cả đối với những tài sản riêng thuộc quyền sở hữu của các thành viên trong tổ chức. Đây cũng là cơ sở tạo nên tính chịu trách nhiệm hữu hạn của pháp nhân. Trong quá trình hoạt động, tổ chức có quyền huy động và sử dụng toàn bộ tài sản của mình, và nếu gặp rủi ro phải chịu trách nhiệm bằng tài sản thì tổ chức cũng chỉ chịu trách nhiệm bằng tất cả những gì mà tổ chức hiện tại có.

?. Nhân danh mình tham gia vào các quan hệ pháp luật một cách độc lập. Điều kiện này thể hiện tư cách của các tổ chức khi tham gia vào các quan hệ. Bởi vì pháp nhân như là 1 thực thể độc lập, như là con người nghĩa bóng cho nên nó tham gia vào các quan hệ pháp luật với danh nghĩa là chính nó. Thông thường nó tham gia và quan hệ pháp luật thông qua hành vi của người đại diện. Người đại diện xác lập quan hệ thì coi như cả tổ chức xác lập quan hệ. Trong 1 số trường hợp, người đại diện pháp luật có thể ủy quyền cho người khác tham gia vào các quan hệ pháp luật.

 

Phân loại pháp nhân theo điều 110 Bộ luật dân dự, pháp nhân có thể chia thành các loại sau:

·    Cơ quan nhà nước và các đơn vị vũ trang.

·    Tổ chức chính trị và chính trị xã hội.

·    Tổ chức kinh tế (doanh nghiệp nhà nước, cổ phần, liên doanh..)

·    Tổ chức xã hội, xã hội nghề nghiệp (Hội Chữ thập đỏ..)

·    Quĩ xã hội, quĩ từ thiện

·    Các tổ chức khác có đủ điều kiện.

 

Câu 5: So sánh giữa 2 loại chủ thể quan hệ pháp luật là thể nhân và pháp nhân.

 

Trình bày về quan hệ pháp luật…. (câu 4)         Chủ thể có hai loại thể nhân và pháp nhân.

 

Cá nhân là chủ thể pháp luật (tự nhiên nhân) khi có đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vị.

Năng lực pháp luật: của mọi cá nhân đều bình đẳng như nhau. Pháp luật hiện nay qui định: mọi người từ khi sinh ra đến chết đi đều có năng lực pháp luật, chỉ trừ 1 số trường hợp bị hạn chế.

Năng lực hành vi: của mỗi cá nhân là khác nhau. Phụ thuộc và khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của mỗi 1 cá nhân. Hai khả năng này được nhà nước đánh giá thông qua 2 tiêu chí: độ tuổi và điều kiện về thể chất thần kinh.

Cá nhân khi có đủ 2 năng lực đó thì có thể tham gia được trực tiếp vào các quan hệ pháp luật à chủ thể trực tiếp. Tuy nhiên trong 1 số trường hợp, mặc dù có đủ năng lực pháp luật, hành vi nhưng không tham gia trực tiếp mà thông qua hành vi của người khác thì cũng là chủ thể gián tiếp. Đối với 1 số cá nhân chỉ có năng lực pháp luật mà không có năng lực hành vi thì trong 1 số trường hợp cũng có thể được phép tham gia vào quan hệ pháp luật thông qua hành vi của người khác.

 

Pháp nhân được hiểu là 1 tổ chức có đầy đủ các điều kiện do pháp luật qui định. Tổ chức này có đầy đủ các điều kiện à được nhà nước thừa nhận có đủ năng lực pháp luật, năng lực hành vi để tham gia vào các hoạt động pháp luật. Hiện nay, các điều kiện để 1 tổ chức được công nhận là 1 pháp nhân được quy định ở điều 94 Bộ luật dân sự. Tất cả các ngành luật khác đều lấy cấc điều kiện này là điều kiện để công nhận pháp nhân của ngành mình. Các điều kiện đó bao gồm:

. Được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập, cho phép thành lập, đăng kí hoặc công nhận.

?. Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ.

?. Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó.

?. Nhân danh mình tham gia vào các quan hệ pháp luật một cách độc lập.

 

So sánh giữa thể nhân và pháp nhân.

Giống:

- đều là chủ thể quan hệ pháp luật.

- đều hội tụ đầy đủ năng lực pháp lí và năng lực hành vi.

Khác:

Thể nhân là 1 con người cụ thể. Pháp nhân là 1 tổ chức, kết hợp nhiều người, nhóm người như 1 con người hình tượng, nghĩa bóng.

Năng lực chủ thể cá nhân phụ thuộc 2 yếu tố năng lực pháp lí và năng lực hành vi (phải được xem xét dựa trên độ tuổi, điều kiện thể chất thần kinh). Tổ chức khi đặt đủ 4 điều kiện thì được nhà nước công nhận có đủ 2 yếu tố đó.

Cá nhân có thể tham gia với tư cách là 1 chủ thể trực tiếp khi có đủ 2 yếu tố. Nếu chỉ có năng lực pháp lí, có thể tham gia 1 cách gián tiếp, thông qua người khác. Tổ chức tham gia thông qua hành vị của người đại diện.

Hai loại chủ thể này nhiều khi được điều chỉnh bằng các qui chế pháp lí khác nhau. Thể nhân khi tham gia quan hệ pháp luật mà vi phạm phải xem xét độ tuổi, điều kiện thể chất thần kinh, có thể bị xử lí về kỉ luật, hành chính, dân sự, hình sự. Pháp nhân cứ vi phạm pháp luật thì bị xử lí, nhưng chỉ chịu xử lí kỉ luật, hành chính, dân sự, không có hình sự.

 

Câu 6: So sánh giữa trách nhiệm hành chính và hình sự trên các góc độ sau: tính chất, đặc điểm, đối tượng áp dụng, thẩm quyền áp dụng.

 

Khái niệm: Trách nhiệm pháp lí là những hậu quả trách nhiệm pháp lí bất lợi do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc những người có thẩm quyền áp dụng đối với các chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật.Việc áp dụng này căn cứ tính chất, mức độ của hành vi vi phạm, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, căn cvào nhân thân người vi phạm, căn cứ vào các mức chế tài mà pháp luật qui định để lựa chọn và áp dụng cho phù hợp.

Ý nghĩa:

-         Việc áp dụng trách nhiệm pháp lí nhằm đảm bảo tính nghiêm minh cỷua các qui định pháp luật.

-         Nhằm trừng phạt người vi phạm, đồng thời còn có ý nghĩa giáo dục cải tạo người vi phạm, giúp họ nhận thức được cái sai, sau này không tái phạm.

-         Tác dụng tuyên truyền phổ biến giáo dục, ngăn ngừa đấu tranh phòng chống việc thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật trong xã hội.

-         Tương ứng với mỗi loại vi phạm pháp lí à trách nhiệm pháp lí à có 4 loại: hình sự, dân sự, hành chính, kỉ luật.

So sánh trách nhiệm hành chính và trách nhiệm hình sự:

Giống:

- đều là các loại trách nhiệm pháp lí, tức là nó là những hậu quả bất lợi mà các chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật phải gánh chịu, do các cơ quan nhà nước, những người có thẩm quyền áp dụng với họ, bắt buộ họ phải gánh chịu. Việc bắt buộc họ phải gánh chịu những hậu ủa đó nhằm giữ trật tự kỉ cương , sự nghiêm minh của pháp luật, nhằm trừng phạt đối với người có hành vi vi phạm, giáo dục cải tạo họ biết được cái sai để không tái phạm, tuyên truyền giáo dục, ngăn ngừa, đấu tranh, phòng chống việc thực hiện hành vi vi phạm pháp luật trong đời sống xã hội.

- đều là loại trách nhiệm pháp lí mà người vi phạm phải chịu trách nhiệm với nhà nước.

Khác:

- Trách nhiệm hành chính được xem xét và áp dụng khi xác định được có hành vi vi phạm hành chính. Trong khi đó trách nhiệm hình sự chỉ được xem xét và áp dụng khi chứng minh được có hành vi vi phạm hình sự. Tuy nhiên, trong 1 số trường hợp cũng có sự chuyển hóa từ vi phạm hành chính sang vi phạm hình sự khi tính chất, mức độ, hậu quả của vi phạm hành chính nặng lên, nghiêm trọng. Như vậy xét về tính chất mức độ thì trách nhiệm hành chính chưa đến mức nặng nề, ghê gớm như trách nhiệm hình sự.

- Xét về đối tượng áp dụng: trách nhiệm hành chính có thể áp dụng cho các cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật. Trong khi đó, trách nhiệm hình sự duy nhất chỉ áp dụng đối với cá nhân.

- Người có thẩm quyền áp dụng: chủ thể có thẩm quyền áp dụng trách nhiệm hành chính bao gồm 3 nhóm:

-         UBND các cấp;

-         công an, bộ đội biên phòng, cảnh sát biển, kiểm lâm, hải quan, thuế vụ, thanh tra chuyên ngành, đội quản lí thị trường, giám đốc 1 số cảng;

-         tòa án nhân dân và cơ quan thi hành án dân sự.

Trong khi đó thẩm quyền áp dụng trách nhiệm hình sự duy nhất chỉ có tòa án nhân dân.

- Xét về thủ tục áp dụng: muốn áp dụng trách nhiệm hành chính, phải tiến hành thủ tục xử phạt hành chính, đây là 1 thủ tục hành chính (không do tòa án tiến hành), bao gồm 2 thủ tục cơ bản: đơn giản và không đơn giản. Trong khi đó, thủ tục áp dụng trách nhiệm hình sự là tố tụng hình sự trải qua các giai đoạn khởi tố vụ án, điều tra, truy tố bị cáo, xét xử tại tòa án: sơ thẩm (có kháng cáo, kháng nghị à phúc thẩm), thi hành án. Trong 1 số trường hợp có thể tiến hành xem xét lại bản án đã có hiệu lực bằng thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.

 

- Các hình thức trách nhiệm hành chính và hình sự có khác nhau.

Hình thức xử phạt hành chính:

- xử phạt chính: 2 mức: cảnh cáo; phạt tiền.

- xử phạt bổ sung: 2 mức: tước quyền sử dụng giáy phép, chứng chỉ hành nghề; tịch thu phương tiện tang vật sử dụng vi phạm.

- 4 biện pháp khắc phục hậu quả:

- trục xuất.

- xử lí hành chính khác: 5 mức: giáo dục tại xã phường, đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở chữa bệnh, đưa vào cơ sở giáo dục, quản chế hành chính.

- Nguyên tắc áp dụng: Mỗi hành vi vi phạm hành chính chỉ được áp dụng 1 hành vi vi phạm hành chính. Các mức khác có thể chọn nhiều hơn 1.

 

Hình phạt:

- hình phạt chính: 7 mức: cảnh cáo; phạt tiền; cải tạo không giam giữ; trục xuất; tù có thời hạn (3 tháng-20 năm); tù chung thân (không xác định, không áp dụng cho người chưa thành niên); tử hình (không ap dụng cho phụ nữ đang mang thai, nuôi con dưới 36 tháng tuổià giảm xuống chung thân, không áp dụng đối với người chưa thành niên).

- hình phạt bổ xung: 7 mức:

·    cấm đảm nhiệm chức vụ, hành nghề, làm những công việc nhất định từ 1-5 năm.

·    cấm cư trú từ 1-5 năm

·    quản chế từ 1-5 năm

·    tước 1 số quyền công dân: bầu cử, ứng cử, làm việc trong bộ máy nhà nước

·    tịch thu tài sản

·    phạt tiền (không áp dụng nếu chọn nó là hình phạt chính)

·    trục xuất (không áp dụng nếu chọn nó là hình phạt chính)

- Các biện pháp khác:

·        tịch thu tang vật, tiền trực tiếp liên quan đến việc thực hiên tội phạm.

·        buộc trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường.

·        buộc chữa bệnh.

·        giáo dục tại địa phương.

·        đưa vào trường giáo dưỡng.

- Các nguyên tắc: Mỗi hành vi vi phạm chỉ bị áp dụng 1 hình phạt chính. Khi áp dụng cho độ tuổi:

-         chưa đủ 14: không phải chịu trách nhiệm hình sự, tuy nhiên có thể bị giáo dục ở địa phương, đưa vào trường giáo dưỡng, ngoài ra có thể bắt trả lại tài sản, bồi thường…

-         đủ 14 , chưa đủ 16: nếu phạm tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, hoặc rất nghiêm trọng (nhưng do vô ý) thì áp dụng như trên. Nếu phạm tội rất nghiêm trọng (do cố ý), đặc biệt nghiêm trọng thì phải chịu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên sẽ được xem xét giảm:

·        Mức 1: nếu điều luật áp dụng là chung thân, tử hình à chịu không quá 12 năm tù.

·        Mức 2: nếu điều luật áp dụng là tù có thời hạn à chịu không quá ½ số năm tù.

-         từ 16 đến 18, cứ phạm tội là phải chịu trách nhiệm hình sự, tuy nhiên được xem xét giảm nhẹ:

·        Mức 1: nếu điều luật áp dụng là chung thân, tử hình à chịu không quá 18 năm tù.

·        Mức 2: nếu điều luật áp dụng là tù có thời hạn à chịu không quá ¾ mức phạt tù.

-         từ 18 tuổi trở lên: phải chịu các mức như điều luật qui định.

 

Câu 7: Phân tích nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Nguyên tắc ấy thể hiện trong hoạt động của bộ máy nhà nước ta như thế nào?

 

Khái niệm… (câu 1)

 

Mặc dù nhà nước luôn có sự vận động, biến đổi. Nhưng nó vẫn giữ được những nguyên tắc cơ bản về tổ chức và hoạt động, bao gồm:

 

Cơ sở: bắt nguồn từ bản chất, nguồn gốc của nhà nước. Nhà nước ta là 1 sản phẩm của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, sau khi giành được chính quyền, nhân dân lập ra nhà nước để phục vụ nhân dânà quyền lực thuộc về nhân dân. Qui định ở điều 2 Hiến pháp 1992: Nhà nước của dân, do dân, vì dân.

Nội dung của nguyên tắc: nhân dân thể hiện tư cách chủ thể quyền lực của mình bằng cách trực tiếp thực hiện quyền lực hoặc gián tiếp thể hiện quyền lực: dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện.

* dân chủ trực tiếp:

§         nhân dân có quyền tham gia làm cán bộ, công chức nhà nước.

§         nhân dân có quyền tham gia đóng góp ý kiến thể hiện ý chí, nguyện vọng của mình khi nhà nước tổ chức trưng cầu dân ý.

§         nhân dân có quyền tự mình giải quyết các công việc ở địa bàn cơ sở.

§         nhân dân có quyền kiểm tra giám sát, khiếu nai, tố cáo.

* dân chủ đại diện:

 

 

 

Quốc hội: hiến pháp, luật, nghị quyết.

Nghị quyết: của nhiều người.

Ủy ban TVQH: pháp lệnh, nghị quyết.

Nghị định: của Chính phủ.

Chủ tịch nước: lệnh, quyết định.

Chỉ thị: là văn bản hành chính.

Chính phủ: nghị quyết, nghi định.

 

Thủ tướng: quyết định, chỉ thi.

 

Bộ trưởng: quyết định, chỉ thi, thông tư.

KT. Thủ tướng

Chánh án TANDTC: quyết định, chỉ thị, thông tư.

Phó Thủ tướng

HĐ thẩm phán TANDTC: nghị quyết.

 

Viện trưởng VKSNDTC: quyết định, chỉ thị, thông tư.

 

HĐND: nghị quyết.

KT. Bộ trưởng Bộ Tài chính

UBND: quyết định, chỉ thi.

Thứ trưởng

Nghị quyết, thông tư liên tịch: nhiều cơ quan tạo ra.

 

 

QUỐC HỘI

CHÍNH PHỦ

 

 

Số 04/2003/L-QH11

Số 11/2002/NQ-CP

Số 04/2003/QĐ-TTg

Số 02/2004/QĐ-BTC

 

 

 

 

Chủ tịch Quốc hội

TM. Chính phủ

Thủ tướng Chính phủ

Bộ trưởng Bộ Tài chính

 

Thủ tướng

 

 

(đóng dấu, ký)

(đóng dấu, ký)

(đóng dấu, ký)

(đóng dấu, ký)

 

Bồi thường đối với những thiệt hại về mặt vật chất. Bao gồm

-         những thiệt hại thực tế đã phát sinh

-         những thu nhập bị đánh mất hoặc giảm sút

-         những chi phí hợp lí để ngăn chặn, hạn chê, khắc phục thiệt hại.

-         Bồi thường đối với sức khỏe bị xâm hại:

-         tiền cứu chữa, chăm sóc, bồi dưỡng sức khỏe cho nạn nhân.

-         chi phí thanh toán cho thu nhập bị mất, bị giảm sút.

-         chi phí để chi trả cho những người mà nạn nhân cấp dưỡng.

-         chi trả cho những người chăm sóc nạn nhân khi ở viện hay ở nhà.

-         phạt tiền tượng trưng để bù đắp về tinh thần cho người bị thiệt hại.

Bồi thường khi tính mạng bị thiệt hại:

-         tiền chi phí cứu chữa, chăm sóc, bồi dưỡng sức khỏe cho nạn nhân trước khi chết.

-         chi phi hợp lí cho việc mai táng.

-         tiền cấp dưỡng cho những người mà nạn nhân cấp dưỡng.

-         tiền bù đắp về tinh thần cho người thân của người thiệt hại.

Bồi thường đối với danh dự uy tín bị xâm hại:

-         chi phí hợp lí để hạn chế, ngăn chặn, khắc phục thiệt hai.

-         chi trả những thu nhập bị mất hoặc giảm sút

-         buộc công khai xin lỗi

-         tiền bù đắp về tinh thần.

Bồi thường trong trường hợp người của pháp nhân khi thực hiện công việc được giao gây ra thiệt hại.

trước hết, pháp nhân phải đứng ra bồi thường cho người bị thiệt hại.

sau đó, xem xét hành vi của người gây thiệt hại, nếu có lỗi à chịu trách nhiệm 1 phần hoặc toàn bộ. Căn cứ vào điều lệ, hợp đồng lao động, các qui đinh của Pháp luật có liên quan.

www.h29k45.net.tf

100 MB free hosting. Click here to build your own free site.